Nhảy đến nội dung

Tổng kết khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn Tỉnh Phú Thọ năm 2011

Nghe bài viết Play Pause


Tổng doanh thu năm 2011 đạt 772.533.467.000 đồng trong đó tổng thu, nộp vào ngân sách nhà nước gồm: Thuế Tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu là 63.765.226.000 đồng trong đó: Khai thác, chế biến Kaolin-felspat nộp ngân sách 15.909.748.000 đồng; khai thác, chế biến khoáng sản là khoáng chất công nghiệp nộp ngân sách cho nhà nước 1.565.488.000 đồng; khai thác, chế biến quặng sắt nộp ngân sách nhà nước18.576.035.000 đồng; khai thác, chế biến đá xây dựng, đá làm ximăng nộp ngân sách nhà nước là 16.717.996.000đ; khai thác đất sét làm gạch nộp ngân sách nhà nước 6.158.564.000đ; khai thác, chế biến cát, sỏi lòng sông nộp ngân sách nhà nước 4.837.395.000đ.

Về vấn đề bảo vệ môi trường: Trong quá trình hoạt động các cơ sở đã chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường, tiến hành áp dụng nhiều phương pháp, công nghệ xử lý chất thải hiện đại, giảm thiểu khói bụi gây độc hại trong khai thác, vận chuyển và chế biến khoáng sản. Nhiều cơ sở xây dựng hồ chứa, bể lắng, bể lọc chất thải trong khai thác, chế biến theo tiêu chuẩn quy định. Đã thực hiện ký quỹ phục hồi môi trường sau khai thác theo quy định với tổng số tiền lên tới hơn 6 tỷ đồng.

Trong năm 2011 các doanh nghiệp cũng đã quan tâm, chủ động đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc khai thác, chế biến khoáng sản theo sản lượng được cấp phép, nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho thị trường trong tỉnh cũng như các vùng lân cận, đặc biệt là khoáng sản làm vật liệu xây dưng thông thường và nguyên liệu gốm sứ cao cấp. Nói chung hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản phục vụ tốt nhu cầu sản xuất của địa phương, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững ngành công nghiệp khai khoáng của tỉnh, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động

Với trữ lượng khoáng sản còn lại đối với các mỏ đã được cấp giấy phép gồm: Trữ lượng Caolanh-felspat còn lại 7.113.000 tấn; trữ lượng khoáng chất công nghiệp (secpentin, talc, dolomit, Quăczit) còn lại 3.638.000 tấn; trữ lượng sắt còn lại 20.077.000 tấn; trữ lượng đá làm vật liệu xây dựng còn lại: 30.807.000 m3; trữ lượng đá nguyên liệu ximăng còn lại 43.254.000 tấn; trữ lượng nguyên liệu sét gạch ngói còn lại: 1.614.000 m3; trữ lượng cát, sỏi lòng sông còn lại là 49.532.519 m3; trữ lượng nước khoáng nóng còn lại là 483 m3/ngày, để khai thác có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương trong những năm tiếp theo cần tiếp tục đẩy mạnh năng lực đầu tư sản xuất theo hướng hiện đại hoá của các đơn vị, kết hợp hài hòa giữa quy mô sản xuất vừa và quy mô nhỏ với cơ giới hóa và bán cơ giới trong chế biến thô (tuyển) với chế biến  tinh (sau tuyển) phù hợp với từng loại khoáng sản trong từng giai đoạn phát triển cụ thể. Tùy theo tiềm năng của từng khoáng sản để định hướng xây dựng các cơ sở chế biến độc lập hoặc kết hợp với các tỉnh kề cận cùng xây dựng. Đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ nguyên liệu khoáng như  talc, Sepentin, asbet, kaolin-felspat... hướng chủ yếu vào các tỉnh lân cận. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sau chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như đá, gạch xây dựng, cát sỏi lòng sông và nguyên liệu xi măng. Nâng cao trình độ nghiệp vụ đối với lãnh đạo, giám đốc điều hành mỏ của các doanh nghiệp nhằm thực hiện đúng các quy định của Luật khoáng sản, Luật đầu tư . . .; chủ động đầu tư thiết bị sản xuất hiện đại, chú trọng bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản, nghiêm túc thực hiện các quy định của Luật khoáng sản, Luật đầu tư, Luật xây dựng và các quy định khác có liên quan. Đối với các đơn vị đang xây dựng cơ bản mỏ cần khẩn trường đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, sớm bước vào sản xuất trong năm 2012. 

Tác giả bài viết:  Nguyễn Thành Trung

Nguồn tin:  Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin