Nhảy đến nội dung

Những tác động của việc Khai thác nước dưới đất đến môi trường

Nghe bài viết Play Pause
Nước dưới đất được coi là nguồn tài nguyên thiên nhiên sử dụng đơn giản nhất, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời  sống tự nhiên và xã hội con người. Nước dưới đất thực chất là một loại khoáng sản lỏng, cung cấp cho các ngành công nghiệp, cho sinh hoạt dân dụng, phục vụ cho nông nghiệp.

Nước dưới đất có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của con người. Trong nhiều trường hợp NDĐ sạch hơn nước mặt. NDĐ thường được bảo vệ chống lại ô nhiễm từ bề mặt bởi đất và các tầng đá. Điều này giải thích  tại sao hầu hết nước sinh hoạt ở nhiều nơi trên thế giới là NDĐ. Hiện nay, do tốc độ phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hoá nhanh chóng, dân số ngày càng tăng,  trong điều kiện nhận thức của cộng đồng còn hạn chế, tình trạng khai thác NDĐ để phục vụ cho nhiều nhu cầu  ngày càng gia tăng, ở nhiều nơi đã diễn ra tình trạng khai thác trái phép, khai thác không tuân thủ đúng quy trình quy phạm dẫn đến NDĐ đang đứng trước nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tác động ngược trở lại đến môi trường sống của chúng ta.

Những tác động môi trường chính thường có thể xảy ra đối với  các dự án khai thác NDĐ gồm:

Hiện tượng sụt lún mặt đất: Khai thác nước dưới đất tạo biến động môi trường tiềm ẩn là làm biến dạng mặt đất trong khu vực khai thác. Nguy cơ này thường xảy ra ở những vùng khai thác tập trung kéo dài khi không có lượng bổ cập từ các nguồn khác, từ đó mực nước hạ thấp tạo thành phễu hạ thấp mực nước lớn và sâu, gây ra hiện tượng sụt lún.

Hiện tượng suy giảm lưu lượng và mực nước trong các lỗ khoan khai thác: Nguyên nhân của việc suy giảm chất lượng, mực nước còn đang là vấn đề phức tạp. Tuy nhiên, một hiện tượng dễ nhận thấy nhất là số lượng lỗ khoan khai thác tăng lên rất nhiều nhưng không được bố trí thích hợp và không quản lý được lưu lượng khai thác. Hiện tượng này làm hạ thấp mực nước ở các lỗ khoan đang khai thác.

Sự suy giảm này còn do các nguyên nhân khác như ống lọc bị tắc, do hiện tương ôxít sắt hoặc hiện tượng sét hoá vách lỗ khoan....

Hiện tượng suy giảm chất lượng nước dưới đất từ các công trình khai thác: Khai thác nước dưới đất tràn lan do kém hiểu biết về đối tượng khai thác còn làm suy giảm chất và lượng  nước khai thác.

Việc khai thác nước dưới đất trong tầng Pleistocen đã làm cho lượng nước ở tầng trên thấm xuyên qua tầng chứa nước đó làm thay đổi thành phần hoá học của nước chứa trong tầng này. ở một số nơi, việc khai thác nước đã thu hút nước từ tầng chứa nước có tổng lượng khoáng hoá lớn đến công trình khai thác nước, gây nhiễm mặn nước trong lỗ khoan.

Tác động của việc khai thác nước dưới đất đến môi trường nước: Đối với môi trường nước dưới đất, việc khai thác nước dưới đất dẫn đến các tác động:

 Hạ thấp mực nước do hút ra một lượng nước từ lòng đất nên đã tạo  ra phễu hạ thấp mực nước quanh vùng khai thác. Lượng nước khai thác càng nhiều thì mực nước mặt hạ thấp càng lớn, thời gian khai thác càng lâu thì phạm vi hạ thấp mực nước càng lớn.

Dẫn đến nhiễm mặn trong tầng chứa nước: Trong trường hợp khai thác nước dưới đất quá mức gần các biên mặn nước dưới  đất có thể bị mặn do nước mặn ở xung quanh thâm nhập vào.

Gây ô nhiễm nước của tầng chứa nước: Nước ở tầng chứa nước bị ô nhiễm do  lôi cuốn nước bẩn từ nơi khác đến, từ các tầng chứa nước bị ô nhiễm đến tầng khai thác qua các lỗ khoan không được xử lý, trám lấp đúng quy trình kỹ thuật. Nước ô nhiễm có thể vận chuyển bệnh tật và mang hoá chất độc hại gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

Do tình trạng khai thác nước tràn lan, khai thác không tuân thủ đúng quy trình quy phạm, nước dưới đất đang đứng trước nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thảm hoạ cạn kiệt, ô nhiễm nước dưới đất gia tăng sẽ tác động trở lại ảnh hưởng lớn đến môi trường sống của  con người. Chúng ta cần phải nhận thức đầy đủ về sự quý giá của nguồn tài nguyên nước dưới đất và cần chung tay quản lý sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên quý giá này để sử dụng bền vững lâu dài.     




Tác giả bài viết:  Bạch Thái Toàn - Phó Chánh Văn phòng Sở