Những bất cập trong việc cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước hiện nay
Hiện nay các quy hoạch, kế hoạch, các dự án có liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không quy định có sự tham gia của cơ quan quản lý tài nguyên nước. Mặt khác, theo quy định của Nghị định số 149/2004/NĐ-CP về cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước thì việc xin phép và cấp phép được thực hiện trong giai đoạn thực hiện đầu tư. Thực tế, đến giai đoạn này các nội dung liên quan đến vị trí, quy mô khai thác nước và các thông số kỹ thuật về thiết kế, vận hành công trình liên quan đến nguồn nước đã được quyết định, phê duyệt bởi cấp có thẩm quyền; vì vậy việc cấp giấy phép khó có thể đưa ra các điều kiện khả thi để bảo đảm thực hiện khai thác, sử dụng tổng hợp, hiệu quả nguồn nước. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều công trình đã đưa vào khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước mà chưa được cấp phép.
Hầu hết các nguồn nước đều chưa có phân vùng mục đích khai thác, sử dụng và bảo vệ; chưa có quy hoạch phân vùng xả thải do vậy thiếu cơ sở cho việc cấp phép xả nước thải.
Số lượng công trình khai thác tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước lớn, phạm vi phân bố rộng, trong khi lực lượng cán bộ quản lý còn mỏng nên việc kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước sau cấp phép còn hạn chế; vì vậy chưa phát huy được hiệu lực của công cụ giấy phép trong việc kiểm soát việc thực hiện các yêu cầu về khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo quy định.
Cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước chưa thực sự được xem là công cụ phục vụ quản lý, chia sẻ và bảo vệ tài nguyên nước. Việc cấp phép còn phụ thuộc nhiều vào nhu cầu sử dụng nước của tổ chức, cá nhân mà chưa có quy hoạch, kế hoạch cụ thể về khai thác, sử dụng.
Việc thực hiện các quy định trong giấy phép chưa được các tổ chức, cá nhân quan tâm như: chế độ báo cáo về kết quả khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; lắp đặt thiết bị đo lưu lượng nước khai thác; trám lấp các giếng khoan không sử dụng…
Luật Tài nguyên Nước số 17/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 21/6/2012 có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 thì các bất cập trong công tác cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước nói trên sẽ được điều chỉnh.
Hầu hết các nguồn nước đều chưa có phân vùng mục đích khai thác, sử dụng và bảo vệ; chưa có quy hoạch phân vùng xả thải do vậy thiếu cơ sở cho việc cấp phép xả nước thải.
Số lượng công trình khai thác tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước lớn, phạm vi phân bố rộng, trong khi lực lượng cán bộ quản lý còn mỏng nên việc kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước sau cấp phép còn hạn chế; vì vậy chưa phát huy được hiệu lực của công cụ giấy phép trong việc kiểm soát việc thực hiện các yêu cầu về khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo quy định.
Cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước chưa thực sự được xem là công cụ phục vụ quản lý, chia sẻ và bảo vệ tài nguyên nước. Việc cấp phép còn phụ thuộc nhiều vào nhu cầu sử dụng nước của tổ chức, cá nhân mà chưa có quy hoạch, kế hoạch cụ thể về khai thác, sử dụng.
Việc thực hiện các quy định trong giấy phép chưa được các tổ chức, cá nhân quan tâm như: chế độ báo cáo về kết quả khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền; lắp đặt thiết bị đo lưu lượng nước khai thác; trám lấp các giếng khoan không sử dụng…
Luật Tài nguyên Nước số 17/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 21/6/2012 có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 thì các bất cập trong công tác cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước nói trên sẽ được điều chỉnh.
Tác giả bài viết: Trần Mạnh Thắng- P. Trưởng phòng QL Nước – KTTV
Nguồn tin: Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin