Nhảy đến nội dung

Những kết quả đã đạt được trong công tác Quản lý nhà nước về môi trường giai đoạn 2011 – 2015

Nghe bài viết Play Pause


1. Hệ thống chính sách pháp luật về Bảo vệ môi trường
Xây dựng rà soát, điều chỉnh các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển cho phù hợp với yêu cầu về BVMT và phát triển bền vững; Kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các ngành, các cấp tổ chức thực hiện và hưởng ứng hành động nhiều nội dung về BVMT. Trong giai đoạn, tỉnh đã ban hành 02 Nghị quyết, 02 Chỉ thị, 04 Quyết định, 02 Chương trình hành động về BVMT để triển khai thực hiện. 


2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường
Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về BVMT được củng cố và hoàn thiện: 
- Đối với cấp tỉnh gồm các đơn vị: Sở Tài nguyên và Môi trường; Công an tỉnh; Ban quản lý các khu công nghiệp với tổng số 85 cán bộ, chiến sỹ. 
- Đối với cấp huyện: Phòng TN và MT đều bố trí cán bộ chuyên trách về quản lý BVMT. BQL các cụm công nghiệp, làng nghề cấp huyện chưa có cán bộ chuyên trách về BVMT theo quy định. 
- Đối với cấp xã: 277 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh chưa có cán bộ chuyên trách về môi trường, giao cho cán bộ địa chính – xây dựng kiêm nhiệm. 


3. Kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải
- Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện theo chức năng nhiệm vụ, thẩm định, trình phê duyệt, xác nhận cho 224 Báo cáo ĐTM, 21 Đề án BVMT; 61 hồ sơ XNHT các công trình, biện pháp BVMT; xác nhận hoàn thành 25 Đề án BVMT; 08 đơn vị đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu;  258 đơn vị đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; Thực hiện điều tra thống kê chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn thông thường phục vụ công tác quản lý môi trường và thu phí BVMT đối với chất thải rắn; Thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt theo đúng quy định.
- Tiến hành làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh: Yên Bái, Hòa Bình, Tuyên Quang  thực hiện kiểm tra, lấy mẫu để xác minh nguyên nhân gây ô nhiễm nước sông Chảy, sông Lô, sông Bứa, suối Cái, Ngòi Lao. Tổng hợp báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo để có biện pháp ngăn chặn việc thải xuống đầu nguồn gây ô nhiễm môi trường liên vùng. 
- Thực hiện mạng lưới quan trắc môi trường giai đoạn 2011-2015; Phối hợp với Tổng cục Môi trường lắp đặt, đưa vào vận hành Trạm quan trắc môi trường không khí tự động quốc gia.


4. Phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường
- Chỉ đạo tập trung khắc phục ô nhiễm và suy thoái môi trường tại các khu vực ô nhiễm; Yêu cầu 136 đơn vị hoạt động khoáng sản phải lập phương án ký, nộp quỹ phục hồi môi trường với tổng số tiền ký quỹ trên 13 tỷ đồng. 
- Thực hiện đầu tư phát triển hệ thống cấp nước sạch cụm dân cư; xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong xóm, làng, thị trấn; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải; quy hoạch nghĩa trang. Triển khai đầu tư lò đốt rác thải y tế và hệ thống xử lý nước thải tại 08 bệnh viện tuyến huyện, 07 bệnh viện tuyến tỉnh với tổng kinh phí trên 176 tỷ đồng. 
- Xây dựng năng lực ứng cứu sự cố môi trường để kịp thời khắc phục hậu quả như: Sự cố nổ kho pháo hoa tại Nhà máy Z121; sự cố đổ xe bồn hóa chất tại Đoan Hùng của Công ty cổ phần Đông Á, ...
- Chỉ đạo, đôn đốc các cơ sở gây ÔNMT nghiêm trọng thực hiện khắc phục, hiện có 6/7 đơn vị đã hoàn thành và được chứng nhận rút ra khỏi Quyết định 64. Rà soát, bổ sung 21 cơ sở vào danh sách các cơ sở gây ÔNMT nghiêm trọng cần xử lý. 


5. Bảo tồn đa dạng sinh học
Ban hành “Kế hoạch hành động về bảo vệ đa dạng sinh học, an toàn sinh học đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”; “Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012 - 2015, tầm nhìn 2020”; Lập Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh phú Thọ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 để triển khai thực hiện. 


6. Truyền thông và nâng cao nhận thức
Phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức tuyên truyền về BVMT bằng nhiều hình thức phù hợp đến đông đảo nhân dân, cán bộ thuộc UBND các cấp, các sở, ngành, tổ chức đoàn thể và các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh như: Hội thảo, tập huấn, mít tinh, tọa đàm, hội thi tìm hiểu pháp luật BVMT, đăng tải các thông tin, hoạt động về môi trường,... thu hút hàng ngàn lượt người tham gia.


7. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Tổ chức và phối hợp tổ chức nhiều đoàn, nhiều đợt thanh, kiểm tra tại 255 cơ sở, đã phát hiện những vi phạm, tiến hành xử phạt đối với 90 đơn vị với tổng số tiền trên 2,8 tỷ đồng. Kiểm tra và yêu cầu khắc phục đối với 15 cơ sở gây ÔNMT theo kiến nghị của cư tri và đơn thư phản ánh của nhân dân.


8. Nghiên cứu khoa học công nghệ
Khuyến khích áp dụng công nghệ sản xuất sạch; Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho BVMT. Hàng năm, thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu, ứng dụng công nghệ xử lý môi trường trên địa bàn tỉnh


9. Hợp tác quốc tế về BVMT
Tranh thủ các nguồn vốn tài trợ của nước ngoài và sự đóng góp của nhân dân, doanh nghiệp để triển khai các mô hình trình diễn, giảm thiểu chất thải, cải thiện môi trường như: Dự án trình diễn của hợp phần sản xuất sạch hơn trong công nghiệp trên địa bàn tỉnh; Dự án thuộc hợp phần phát triển bền vững môi trường trong các khu đô thị nghèo; Dự án ĐTXD hệ thống xử lý nước thải tập trung tại KCN Thuỵ Vân với công suất 5.000 m3/ngày đêm; Dự án hệ thống thu gom, xử lý nước thải thành phố Việt Trì giai đoạn I.


10. Xã hội hóa công tác Bảo vệ MT
- Chỉ đạo, tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể xây dựng và nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến trong hoạt động BVMT. Hiện nay, 03 huyện đã xây dựng mô hình lò đốt rác thải bằng khí tự nhiên; 11/13 huyện, thành, thị đã xây dựng Đề án thu gom, xử lý rác thải. Các địa phương đã đưa các tiêu chí về BVMT để đánh giá, bình bầu gia đình văn hóa, thôn, làng, xã văn hóa và trong việc thực hiện xây dựng nông thôn mới.
- Quỹ bảo vệ môi trường, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh đi vào hoạt động tạo nguồn lực ưu tiên hỗ trợ cho các chương trình, dự án về BVMT và tập hợp huy động cá nhân, tổ chức tham gia bảo vệ, cải thiện môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, do điều kiện tự nhiên phức tạp và ý thức trách nhiệm về BVMT của xã hội nhìn chung còn hạn chế, chạy theo lợi ích cục bộ, cá nhân, nên việc thực thi luật pháp về BVMT ở tỉnh còn nhiều khó khăn. Đã xuất hiện những điểm nóng và những nội dung cấp bách về môi trường. Trong giai đoạn 2016 – 2020, tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa các giải pháp, chế tài để thực hiện hiệu quả các mục tiêu BVMT trên quan điểm phát triển bền vững và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng tỉnh Phú Thọ ngày càng ”Xanh – Sạch – Đẹp”.
 

Tác giả bài viết:  Dương Hồng Vân