Nhảy đến nội dung

Kế hoạch thực hiện nghị quyết trung ương 7 về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Nghe bài viết Play Pause
Nghị quyết đã đề ra mục tiêu đến năm 2020, về cơ bản, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Đến năm 2050, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững tài nguyên; bảo đảm chất lượng môi trường sống và cân bằng sinh thái, phấn đấu đạt các chỉ tiêu về môi trường tương đương với mức hiện nay của các nước công nghiệp phát triển trong khu vực. Nghị quyết cũng đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể về ứng phó BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đồng thời cũng đã đưa ra các giải pháp chủ yếu để thực hiện Nghị quyết.

Để cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp đặc thù biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế của tỉnh Phú Thọ. Tỉnh uỷ Phú Thọ đã ban hành Kế hoạch số 83-KH/TU ngày 13/8/2013 thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kế hoạch đã đề ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2020

Về ứng phó biến đổi khí hậu:

- Tạo lập hệ thống cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu; hoàn thành việc đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực, ngành, địa phương; xác định các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện biến đổi khí hậu.

- Nâng cao năng lực tổ chức, thể chế, chính sách, nhận thức, trách nhiệm về ứng phó với biến đổi khí hậu. Nâng cao năng lực cảnh báo thiên tai của các cơ quan chuyên môn. Hình thành cho mỗi thành viên trong xã hội ý thức chủ động phòng, tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Giảm dần thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra.

- Đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng, an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng, nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Xây dựng kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển bền vững; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc trong phát triển kinh tế - xã hội. Phấn đấu giảm mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP từ 8 - 10% so với năm 2010.

Về quản lý tài nguyên:

- Đánh giá được tiềm năng, giá trị của các nguồn tài nguyên; quy hoạch, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên trên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền.

- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên. Ngăn chặn xu hướng suy giảm tài nguyên nước ngọt và tài nguyên rừng; nâng cao hiệu quả sử dụng nước tính trên một đơn vị GDP. Bảo đảm cân đối quỹ đất cho phát triển kinh tế - xã hội; giữ và sử dụng linh hoạt 28.500 ha đất chuyên trồng lúa nhằm bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Khai thác hiệu quả và bền vững sinh thái, cảnh quan, tài nguyên sinh vật. Hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô.

- Chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới lên trên 5% tổng năng lượng thương mại sơ cấp; giảm tiêu hao năng lượng tính trên một đơn vị GDP; tiết kiệm 5 - 8% tổng mức tiêu thụ năng lượng so với dự báo hiện nay về phát triển năng lượng, thay thế từ 10 - 12% các thiết bị lạc hậu sử dụng nhiều năng lượng bằng các thiết bị sử dụng tiết kiệm năng lượng trên địa bàn tỉnh.

Về bảo vệ môi trường:

- Ngăn chặn và kiểm soát được mức độ gia tăng ô nhiễm, phục hồi, nâng cao chất lượng môi trường, bảo đảm phát triển bền vững; bảo đảm cho mọi người dân được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường tự nhiên đạt chuẩn mực do Nhà nước quy định.

- Phấn đấu 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch. 100% đô thị, khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Quản lý và xử lý 100% chất thải nguy hại, chất thải y tế; tái sử dụng hoặc tái chế trên 65% rác thải sinh hoạt. Phục hồi sinh thái 100% khu vực khai thác khoáng sản. Kiểm soát cơ bản được chất lượng môi trường nước các lưu vực sông trên địa bàn tỉnh.

- Phấn đấu 100% dân cư thành thị và dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; trong đó 95% dân cư thành thị và 65% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia. Kiểm soát an toàn, xử lý ô nhiễm môi trường do hậu quả chiến tranh. Nâng cao chất lượng môi trường không khí ở các đô thị, khu vực đông dân cư. Cải thiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực nông thôn.

- Quản lý khai thác hợp lý, không khai thác rừng tự nhiên, nâng diện tích rừng phòng hộ lên trên 33.974 ha, diện tích rừng đặc dụng lên trên 17.300 ha; nâng độ che phủ của rừng lên trên 51%.

Để thực hiện được các mục tiêu này Kế hoạch cũng đã đưa ra các nhiệm vụ chủ yếu để thực hiện đồng thời đưa ra các giải pháp để tổ chức thực hiện trong đó tập trung vào các giải pháp như: Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, đa dạng hoá hình thức đào tạo, đổi mới nội dung..nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và xây dựng năng lực, kỹ năng phòng tránh thiên tai chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, các tổ chức, doanh nghiệp và toàn xã hội...; Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó biến đổi khí hậu.....; Tăng cường quản lý nhà nước về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường... kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm, đúng quy định của pháp luật các vi phạm về khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Tác giả bài viết:  Nguyễn Khắc Định - Phòng Quản lý nước – KTTV