Nhảy đến nội dung

Đánh giá hiệu quả của mô hình lò đốt rác thải sinh hoạt tại huyện Cẩm Khê

Nghe bài viết Play Pause


Mô hình lò đốt rác thải sinh hoạt bằng khí tự nhiên NFi-05 được sản xuất tại Thái Lan theo công nghệ của Nhật Bản được UBND tỉnh cấp hỗ trợ kinh phí thực hiện với tổng số tiền là 2.850 triệu đồng. Lò đốt làm việc theo quy trình khép kín, trong quá trình vận hành không sử dụng các loại năng lượng như điện, gas hay xăng dầu để hoạt động mà chỉ sử dụng chính rác thải khô để làm mồi kết hợp cùng các van điều chỉnh lưu lượng gió để tạo nhiệt lượng trong buồng đốt. Lò đốt cấu tạo 2 ngăn, có các cửa van dùng để điều chỉnh áp suất, gió, không khí tạo sự đối lưu không khí cho phù hợp với nhiệt độ bên trong của lò đốt.

Qua quá trình theo dõi, đánh giá cho thấy: xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ đốt chất thải bằng khí tự nhiên đã cải thiện được một số nhược điểm so với phương pháp ủ phân vi sinh cụ thể: Công suất xử lý tăng đáng kể, trong điều kiện thời tiết thuận lợi, lò có khả năng xử lý được từ 6 - 8 m3 rác/ngày. Như vậy, so với phương pháp ủ rác thải làm phân vi sinh, việc xử lý rác bằng lò đốt khí tự nhiên trong thời gian ngắn có thể xử lý phần lớn lượng rác thải sinh hoạt thu gom được trong khi đối với lò ủ phân vi sinh phải mất từ 18 - 25 ngày mới xử lý được một mẻ rác. Việc xử lý rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện Cẩm Khê bằng lò đốt theo công nghệ khí tự nhiên đã giảm được áp lực do ô nhiễm thứ cấp từ rác thải sinh hoạt lên môi trường sống của người dân.

Tuy nhiên, trong quá trình vận hành công nghệ xử lý rác thải này cũng đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cụ thể: Do tính chất đặc trưng của rác thải sinh hoạt ở Việt Nam nói chung và ở tại địa phương nói riêng có chứa nhiều thành phần thải khác nhau, rác thải lại không được phân loại tại nguồn nên khi đốt lượng rác thải này cháy không hoàn toàn, lượng rác thải đốt được chỉ chiếm khoảng 40 - 50% khối lượng rác thu gom được. Lượng tro xỉ của lò sau xử lý thiêu đốt vẫn còn rất lớn, các loại chất thải trơ và chất thải không thể xử lý được và phải bố trí bãi chôn lấp. Bên cạnh đó, để lò đốt hoạt động hiệu quả thì cần phải bố trí nhân lực phục vụ cho việc phân loại rác thải, số lượng nhân công ước tính khoảng 4 - 6 người/ca.


Lò đốt rác thải sinh hoạt bằng khí tự nhiên NFi-05 chỉ hoạt động tốt đối với các loại chất thải có độ ẩm thấp dưới 30%, các loại chất thải có độ ẩm lớn đều không thể đốt được. Do đó sau khi thu gom, rác thải cần phải được phơi khô và phân loại thủ công trước khi đưa vào lò đốt. Việc tập trung một lượng lớn rác thải sinh hoạt tại khu vực lò đốt đã phát sinh tình trạng ô nhiễm thứ cấp từ nước rỉ rác và ô nhiễm không khí do mùi các loại rác thải đang trong quá trình phân hủy.


Trong điều kiện thời tiết bình thường, khô ráo các loại rác thải được xử lý tương đối nhanh và hiệu quả. Tuy nhiên, khi gặp các điều kiện thời tiết bất lợi như mưa nhiều, nồm ẩm thì rác thải không thể đốt được gây ùn tắc và phát sinh lượng lớn nước rỉ rác không được thu gom và xử lý triệt để. Lúc này, hiệu suất xử lý của lò đốt giảm rất nhiều, lò chỉ có khả năng xử lý được khoảng 2m3 rác/ngày.


Hiện nay, một số huyện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã tiến hành tham quan, nghiên cứu và đang tiếp tục đề xuất được đầu tư, xây dựng các mô hình xử lý rác thải sinh hoạt bằng lò đốt theo các công nghệ khác kể cả trong nước và nước ngoài có thay đổi, cải tiến so với công nghệ đã đầu tư tại huyện Cẩm Khê nhằm so sánh hiệu quả xử lý và hiệu quả kinh tế đối với công nghệ lò đốt NFi-05. Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đã phối hợp với các Sở, ngành và UBND các huyện tổ chức Hội nghị tham khảo các mô hình đã lắp đặt tại địa phương khác, lấy ý kiến đánh giá và xây dựng mô hình xử lý rác thải sinh hoạt hoàn chỉnh. Các mô hình xử lý rác thải tại địa phương phải đảm bảo xử lý được phần lớn lượng rác thải phát sinh thu, đồng thời có khả năng giải quyết triệt để các ô nhiễm thứ cấp từ quá trình xử lý rác thải sinh hoạt như xử lý mùi, khói bụi thải từ lò đốt, nước rỉ rác từ khu vực tập kết rác, các nguồn gây ô nhiễm khác từ khu vực bãi chôn lấp chất thải trơ và tro xỉ sau quá trình đốt. Đặc biệt là có xử lý khí thải lò đốt đạt QCVN 30:2012/QCVN-BTNMT quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về lò đốt chất thải công nghiệp theo yêu cầu tại văn bản số 1155/BTTNMT-TCMT ngày 2/4/2014 của Bộ TN và MT. Sau khi các mô hình này được ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ xem xét, quyết định đầu tư và đi vào vận hành ổn định sẽ có cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả xử lý, hiệu quả kinh tế giữa các mô hình xử lý rác thải sinh hoạt.  

Tác giả bài viết:  Hải Minh - Chi cục bảo vệ Môi trường