Tin chuyên ngành
Dịch tả lợn châu Phi là dịch bệnh nguy hiểm, gây thiệt hại kinh tế lớn, do đó công tác phòng chống dịch hết sức quan trọng, trong đó việc thực hiện vệ
( )Dịch tả lợn châu Phi là dịch bệnh nguy hiểm, gây thiệt hại kinh tế lớn, do đó công tác phòng chống dịch hết sức quan trọng, trong đó việc thực hiện vệ
+ Vùng dịch (xã, phường/thị trấn nơi có ổ dịch): Thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc 01 lần/ngày trong vòng 1 tuần đầu tiên; 03 lần/tuần trong 2- 3 tuần tiếp theo.
+ Vùng dịch nguy cơ cao (vùng bị dịch uy hiếp - phạm vi 03 km xung quanh ổ dịch): Thực hiện tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc liên tục 01 lần/ngày trong vòng 1 tuần đầu tiên; 03 lần/tuần trong 2-3 tuần tiếp theo. Sử dụng các thuốc khử trùng phổ rộng và pha đúng tỷ lệ, thực hiện đúng biện pháp.
+ Vùng đệm (phạm vi 10 km xung quanh ổ dịch): Thực hiện tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc với tần suất 01 lần/tuần, liên tục trong vòng 1 tháng kể từ khi có ổ dịch.
* Nguyên tắc vệ sinh, khử trùng, tiêu độc
- Người thực hiện khử trùng tiêu độc phải sử dụng bảo hộ lao động phù hợp.
- Hóa chất sát trùng ít độc hại đối với người, vật nuôi, môi trường; phải phù hợp với đối tượng khử trùng tiêu độc; có tính sát trùng nhanh, mạnh, kéo dài, hoạt phổ rộng, tiêu diệt được nhiều loại mầm bệnh.
- Trước khi phun hóa chất sát trùng phải làm sạch đối tượng khử trùng tiêu độc bằng biện pháp cơ học (quét dọn, cạo, cọ rửa).
- Pha chế và sử dụng hóa chất sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bảo đảm pha đúng nồng độ, phun đúng tỷ lệ trên một đơn vị diện tích.
* Loại hóa chất sát trùng
- Hóa chất sát trùng trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam.
- Vôi bột, vôi tôi, nước vôi, xà phòng, nước tẩy rửa.
- Loại hóa chất sát trùng khác theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương.
* Đối tượng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc
- Cơ sở chăn nuôi lợn tập trung; Hộ gia đình có chăn nuôi lợn; Cơ sở sản xuất lợn giống; Cơ sở giết mổ lợn; Cơ sở sơ chế, chế biến, buô bán thịt lợn và các sản phẩm thịt lợn.
- Địa điểm thu gom lợn và sản phẩm của lợn để buôn bán, kinh doanh, nơi cách ly kiểm dịch lợn và sản phẩm của lợn.
- Khu vực chôn lấp, xử lý, tiêu hủy lợn và sản phẩm của lợn nhiễm, nghi nhiễm mầm bệnh; khu vực thu gom, xử lý chất thải của lợn.
- Trạm, chốt kiểm dịch động vật, chốt kiểm soát ổ dịch.
- Phương tiện vận chuyển lợn và sản phẩm của lợn.
Căn cứ đặc điểm cụ thể của địa phương, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương xác định khu vực có ổ dịch cũ, địa bàn có nguy cơ cao cần phải vệ sinh, khử trùng tiêu độc.
* Tần suất thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng
- Đối với cơ sở chăn nuôi lợn tập trung: Đột xuất khi có yêu cầu hoặc định kỳ vệ sinh khu vực chăn nuôi, định kỳ thực hiện tiêu độc khử trùng theo lịch của cơ sở và theo các đợt phát động của địa phương.
- Hộ gia đình có chăn nuôi lợn: Định kỳ vệ sinh khu vực chăn nuôi và thực hiện tiêu độc khử trùng theo các đợt phát động của địa phương.
- Cơ sở sản xuất lợn giống: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi đợt xuất chuồng và theo các đợt phát động của địa phương.
- Cơ sở giết mổ lợn: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi ca giết mổ lợn.
- Cơ sở sơ chế, chế biến thịt lợn, sản phẩm thịt lợn: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi ca sản xuất.
- Địa điểm thu gom, chợ buôn bán lợn và sản phẩm của lợn: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng khu vực buôn bán lợn và sản phẩm của lợn sau mỗi phiên chợ. Nơi cách ly kiểm dịch lợn phải định kỳ thực hiện vệ sinh và tiêu độc khử trùng ít nhất 01 lần trong tuần trong thời gian nuôi cách ly lợn.
- Phương tiện vận chuyển lợn và sản phẩm của lợn: Định kỳ vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau mỗi lần vận chuyển.
- Khu vực chôn lấp, xử lý, tiêu hủy lợn, sản phẩm của lợn nhiễm, nghi nhiễm mầm bệnh; khu vực thu gom, xử lý chất thải của động vật: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng sau khi hoàn thành việc xử lý, chôn lấp và theo các đợt phát động của địa phương.
- Trạm, chốt kiểm dịch động vật: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng đối với phương tiện vận chuyển lợn và sản phẩm của lợn đi qua trạm kiểm dịch.
- Chốt kiểm soát ổ dịch: Vệ sinh, tiêu độc khử trùng hằng ngày đối với phương tiện vận chuyển đi qua chốt trong thời gian có dịch.
Trường hợp có dịch bệnh Dịch tả lợn châu Phi xảy ra trên địa bàn, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn cụ thể về đối tượng, tần suất vệ sinh, khử trùng tiêu độc trên địa bàn vùng có ổ dịch, vùng dịch và vùng bị dịch uy hiếp.
Triển khai mô hình chăn nuôi gà thịt lông màu VietGAHP, liên kết HTX theo chuỗi giá trị
( )Năm 2023 Trung tâm Khuyến nông Phú Thọ đã triển khai dự án Khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình chăn nuôi gà thịt lông màu VietGAHP, liên kết HTX theo chuỗi giá trị tại một số tỉnh Phía Bắc” giai đoạn 2023-2024
PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT MÙA MƯA LŨ
( )Trong thời gian vừa qua, tại các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc có mưa lớn kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến người và tài sản. Mưa, lũ ảnh hưởng xấu đến sức đề kháng của đàn vật nuôi; mặt khác khi mưa to có thể gây ngập úng cục bộ hoặc lụt trên diện rộng, tạo cơ hội phát tán mầm bệnh, là điều kiện thuận lợi để phát sinh dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm. Vì vậy, người chăn nuôi cần chú ý chăm sóc đàn vật nuôi trong mùa mưa lũ để tăng khả năng chống chịu các tác động bất lợi của thời tiết và sự đe dọa của dịch bệnh là rất cần thiết. Do vậy, người chăn nuôi cần thực hiện các biện pháp sau:
CƠ CHẾ HỖ TRỢ TIÊM VÁC XIN PHÒNG DẠI CHO ĐÀN CHÓ MÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2023
( )
Những năm qua, công tác phòng, chống bệnh Dại trên địa bàn tỉnh được quan tâm chỉ đạo sát sao, các cấp, ngành đã chủ động triển khai các biện pháp phòng chống bệnh Dại theo các Kế hoạch về phòng chống bệnh Dại giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch hằng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh; công tác thông tin, tuyên truyền, quản lý đàn vật nuôi, giám sát, phòng ngừa, xử lý các ổ bệnh Dại động vật và điều trị dự phòng cho người bị phơi nhiễm được chú trọng, đã hạn chế nguy cơ lây lan bệnh Dại. Giai đoạn 2016 - 2022, đã phát hiện và xử lý kịp thời 100% ca bệnh Dại động vật, giảm mạnh số ca tử vong do bệnh Dại gây ra trên người còn 13 ca (giảm 30 ca so với giai đoạn 2010-2015). Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa bền vững, vi rút Dại vẫn lưu hành ở một số địa phương trong tỉnh;từ đầu năm đến nay, đã phát hiện 45 ca động vật dương tính với vi rút Dại tại 11 huyện (Tân Sơn, Thanh Ba, Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Thủy, Đoan Hùng, Yên Lập, Thanh Sơn, Cẩm Khê, TX Phú Thọ và TP Việt Trì).
TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH TIÊM PHÒNG VÁC XIN DẠI TRÊN TOÀN TỈNH
( )
Để triển khai hiệu quả nguồn vác xin được hỗ trợ từ ngân sách tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT ban hành Kế hoạch số 1086/KH-SNN ngày 04/7/2023 của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn về tiêm vác xin phòng, chống bệnh Dại cho đàn chó, mèo năm 2023.
CÁC BIỆN PHÁP CHỦ ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BỆNH DẠI
( )Để chủ động phòng chống bệnh dại, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
* Đối với vật nuôi: Tiêm phòng đầy đủ cho chó, mèo nuôi và tiêm nhắc lại hàng năm theo khuyến cáo của ngành thú y; Không thả rông chó, mèo phải xích, nhốt; nếu chó ra đường phải được rọ mõm. Diệt ngay chó và động vật lên cơn dại hoặc nghi mắc bệnh dại trong khu vực ổ dịch.
* Đối với con người:
Không đùa nghịch, trêu chọc chó, mèo; Người bị chó, mèo cắn phải đi tiêm vắc xin phòng sớm và đầy đủ các mũi tiêm theo chỉ dẫn của bác sĩ;
Tùy theo tình trạng động vật, tình trạng vết cắn, vị trí vết cắn và tình hình bệnh dại trong vùng mà người bệnh được dùng vắc xin hoặc dùng vắc xin kết hợp với huyết thanh kháng dại. Việc khám và điều trị dự phòng dại phải thực hiện càng sớm càng tốt trong vòng 72 giờ sau khi bị cắn. Hiệu quả điều trị dự phòng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tình trạng vết cắn, vị trí cắn, thời gian từ khi bị cắn đến khi được tiêm vắc xin, loại vắc xin, đáp ứng miễn dịch của người bệnh.
Trong vòng 6 tháng sau tiêm vắc xin, người dân không sử dụng bất kỳ các loại đồ uống có cồn như rượu, bia ... đặc biệt có một số thuốc gây ảnh hưởng đến quá trình hình thành kháng thể kháng vi rút dại của cơ thể, do đó trong thời gian này khi đi khám chữa bệnh cần báo cho bác sỹ biết việc mình đang tiêm phòng dại.
Khi bị chó, mèo cắn phải khẩn trương đến ngay cơ sở y tế để tiêm vắc xin và huyết thanh kháng dại. Tiêm vắc xin dại cho cả người và động vật (chủ yếu là chó) là biện pháp hiệu quả và quan trọng để phòng chống bệnh dại.
TUYÊN TRUYỀN Phòng, chống bệnh Dại cho đàn chó mèo
( )
Bệnh Dại là bệnh viêm não tủy cấp tính do vi rút lây truyền từ động vật sang người chủ yếu qua các vết cắn, vết cào, vết liếm trên da, niêm mạc bị tổn thương, hay vết thương hở; là một trong những bệnh nguy hiểm có khả năng gây chết người nếu không được điều trị dự phòng kịp thời.
Một số biện pháp phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi trong mùa mưa bão
( )
Để chủ động tăng cường phòng chống thiên tai, đảm bảo an toàn cho vật nuôi, giảm thiểu thiệt hại về chăn nuôi trong mùa mưa lũ,. Bà con chăn nuôi cần thường xuyên cập nhật bản tin dự báo thời tiết hàng ngày và tăng cường chăm sóc gia súc, gia cầm trong mùa mưa bão để tăng khả năng sức chống chịu, tác động bất lợi của thời tiết và sự đe dọa của dịch bệnh với vật nuôi.
HUYỆN PHÙ NINH TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH TIÊM PHÒNG VẮC XIN DẠI CHO ĐÀN CHÓ, MÈO
( )
Thực hiện Kế hoạch số 116/KH-UBND ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh, về việc tiêm phòng vắcxin phòng, chống bệnh Dại cho đàn chó, mèo năm 2023. Ngày 11 tháng 8 năm 2023, Trạm Chănnuôi và Thú y huyện Phù Ninh tổ chức hội nghị phổ biến triển khaiKếhoạchtiêm phòng cho các đồng chí là cán bộ phụ trách thú y của 17 xã, thị trấn trên địa bàn.
BỆNH VIÊM DẠ DÀY RUỘT TRUYỀN NHIỄM TRÊN LỢN (TGE)
( )
Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm trên lợn hay còn gọi là bệnh TGE (Transmissible Gastroenteritis) là bệnh truyền nhiễm do Coronavirus gây ra, lợn bị mắc ở mọi lứa tuổi nhưng cảm thụ mạnh nhất và tử vong cao nhất là lợn con lợn mẹ từ 1 - 10 ngày tuổi.
Virút TGE xâm nhập vào cơ thể lợn qua đường miệng – mũi, sau đó virút nhân lên ở niêm mạc ruột non, sự nhân lên này làm phá hủy nhung mao ruột, dẫn đến rối loạn hấp thu cấp tính và hậu quả là lợn tiêu chảy dữ dội, mất nhiều nước, chất điện giải và chết nhanh. Thời gian nung bệnh ngắn có thể từ 18 giờ đến 3 ngày. Triệu chứng lâm sàng, thời gian bệnh và tỉ lệ chết tỉ lệ nghịch với lứa tuổi lợn.