CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG – NHỮNG KẾT QUẢ ĐÁNG GHI NHẬN TRONG THỜI GIAN QUA
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ. Tình trạng ô nhiễm môi trường đã được cải thiện. Về cơ bản, nhận thức của doanh nghiệp về công tác bảo vệ môi trường đã có nhiều chuyển biến tích cực, chú trọng, tập trung đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, các công trình, biện pháp xử lý, bảo vệ môi trường được đầu tư hiện đại, đáp ứng được yêu cầu về BVMT. Các đơn vị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã tăng cường công tác khắc phục hậu quả, đổi mới công nghệ xử lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trường (Hiện 100% các cơ sở thuộc danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg đã được chứng nhận hoàn thành việc xử lý). Sở Tài nguyên và Môi trường cũng đã tích cực tham mưu, thẩm định các dự án thông qua việc thẩm định báo cáo ĐTM, Kế hoạch BVMT. Trong năm 2017 và 2018 đã thẩm định, trình phê duyệt 109 báo cáo đánh giá tác động môi trường; 32 phương án cải tạo, phục hồi môi trường; 41 Kế hoạch BVMT; cấp 20 Giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT; 45 Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; Ra thông báo và thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp với số tiền 6,7 tỷ đồng.
Công tác thanh, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở, sản xuất, kinh doanh được thực hiện thường xuyên. Trong năm 2017 và 2018 đã thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT tại 57 đơn vị; Thực hiện kiểm soát ô nhiễm năm 2017, 2018 theo kế hoạch. Tham gia đoàn thanh tra liên ngành do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với công tác cấp giấy chứng nhận/xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất tại 02 đơn vị; Tham gia đoàn thanh tra liên ngành của tỉnh về công tác nhập khẩu phế liệu tại 06 đơn vị; Kiểm tra, giám sát về môi trường đối với 04 lô hàng phế liệu nhập khẩu. Tổ chức kiểm tra, giải quyết các kiến nghị về môi trường theo phản ánh của nhân dân, ý kiến cử tri và các phương tiện thông tin đại chúng đối với 28 cơ sở theo đúng thẩm quyền.
Thông qua công tác kiểm tra cho thấy: đa số các doanh nghiệp đã có ý thức trong chấp hành bảo vệ môi trường như quan trắc, giám sát môi trường; đăng ký phát sinh chất thải nguy hại; phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp. Tuy nhiên, một số cơ sở chưa có ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, vẫn còn tính chất đối phó với cơ quan chức năng. Các vi phạm về môi trường tập trung ở các hành vi về không đăng ký phát sinh chất thải nguy hại; không quan trắc, giám sát môi trường và đưa công trình vào sử dụng khi chưa được kiểm tra, xác nhận công trình, biện pháp bảo vệ môi trường; cá biệt có trường hợp chưa đầu tư các công trình xử lý BVMT khi đã đi vào hoạt động.
Các dự án đầu tư vào tỉnh đã có sự chọn lọc, chỉ cho phép đầu tư đối với các loại hình sản xuất, kinh doanh, các dự án có đầy đủ các công trình, biện pháp bảo vệ môi trường. Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, UBND các huyện, thành, thị tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường. Trong năm 2018 cũng đã thành lập đường dây nóng (Cấp tỉnh, cấp huyện và cơ sở) để tiếp nhận, xác minh, xử lý và phản hồi thông tin phản ánh, kiến nghị về ô nhiễm môi trường, tạo bước chuyển biến tích cực về ý thức, trách nhiệm và hành động của địa phương đối với công tác xử lý các vụ việc ô nhiễm môi trường, phát huy được vai trò của người dân trong việc tham gia giám sát, bảo vệ môi trường trên địa bàn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường hiện nay vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần được giải quyết, cụ thể:
- Hệ thống văn bản QPPL liên quan đến lĩnh vực môi trường đã có những bước tiến lớn nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, thống nhất với các luật liên quan như Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Khoáng sản, dẫn đến phần nào khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Một số quy định về BVMT còn chồng chéo, chưa rõ ràng, chậm được sửa đổi, bổ sung.
- Công tác kiểm tra, thông báo thông quan cho phế liệu nhập khẩu còn gặp khó khăn. Cán bộ phụ trách chuyên môn rất hạn chế, chưa được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng về kiểm tra phế liệu nhập khẩu. Hoạt động kiểm tra đượ thực hiện tại cảng nhập khẩu, nên phải di chuyển mất nhiều thời gian, cần phối hợp với nhiều đơn vị (Chi cục Hải quan cửa khẩu, đơn vị giám định, …), điều kiện làm việc rất hạn chế. Quy định về việc lấy mẫu chưa rõ ràng.
- Nguồn lực và các điều kiện đảm bảo cho công tác BVMT còn hạn chế. Nguồn nhân lực quản lý nhà nước về môi trường còn mỏng so với yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt ở cấp huyện, xã.
- Công tác kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh chưa được nhiều. Số lượng các đơn vị được triển khai kiểm tra, kiểm soát còn thấp so với tổng số các đơn vị cần được kiểm tra. Lực lượng cán bộ thực hiện công tác kiểm tra mỏng, chưa có hệ thống thanh tra chuyên ngành về môi trường.
- Một số thiết bị quan trắc, phân tích môi trường của các dự án trước đây đã hỏng, lạc hậu. Trong khi đó kinh phí đầu tư cho duy trì phòng phân tích, sửa chữa, nâng cấp thiết bị phân tích quan trắc – Trung tâm quan trắc và BVMT còn hạn chế, chưa đáp ứng được với nhu cầu hiện nay.
Để thực hiện tốt hơn nữa công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới, cần kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, thực hiện các giải pháp thực hiện như sau:
- Sớm hoàn thiện và ban hành đồng bộ các văn bản pháp luật quy định về bảo vệ môi trường để tổ chức triển khai thực hiện.
- Hỗ trợ địa phương đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ nâng cao năng lực quản lý môi trường, đầu tư nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị quan trắc, phân tích môi trường phục vụ công tác quản lý môi trường.
- Triển khai cụ thể hóa Quyết định số 1169/QĐ-TTg ngày 10/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý môi trường từ Trung ương đến địa phương giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó nghiên cứu, bổ sung chức năng thanh tra môi trường cho Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh.
- Nghiên cứu, chuyển giao và giới thiệu cho địa phương các công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt tiên tiến, phù hợp với thực tế để phổ biến, nhân rộng.
Tác giả bài viết: Dương Hồng Vân-Chi cục BVMT