Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương nhận định như vậy.
Tín hiệu tích cực cục bộ là, từ nay cho đến cuối năm 2008, do mưa nhiều trên diện rộng vừa qua, dòng chảy trên các sông ở Bắc Bộ có khả năng ở mức xấp xỉ trên trung bình nhiều năm (TBNN) cùng thời kỳ.
Trên sông Đà, dòng chảy toàn mùa đến hồ thủy điện Hòa Bình và Tuyên Quang ở mức bình thường kể từ năm 1971 và vì thế, chưa thấy nguy cơ thiếu nước cho hai nhà máy thủy điện. Cho nên, ở hạ du sông Hồng và sông Thái Bình, dòng chảy đến tháng 2/2009, cũng tương đối dồi dào so với TBNN.
Những tháng cuối cùng của mùa cạn, tháng 2-4/2009, dòng chảy hai con sông này vẫn duy trì ở mức xấp xỉ bình thường. Người ta thậm chí lạc quan dự báo mực nước thấp nhất tại trạm thủy văn Hà Nội có khả năng ở mức 0,9m, vào thời điểm giữa mùa cạn (tháng 2-3/2009). Trên sông Thái Bình, mực nước thấp nhất tại trạm Phả Lại cũng không thấp hơn bình thường.
Tuy nhiên, xét trên bình diện tổng thể, tình hình có vẻ ngược lại. Ba tháng đầu năm 2009, tương đương với cuối vụ đông-xuân, dòng chảy trên hầu hết các sông suối toàn quốc có thể thiếu hụt so với mức bình quân gần 40 năm qua.
Theo TS Nguyễn Lan Châu, Phó Giám đốc Trung tâm DBKTTV, toàn vùng Bắc Bộ, trong ba tháng đầu năm 2009, dòng chảy các sông có khả năng thiếu hụt khoảng 5 - 10% so với TBNN. Các vùng còn lại của đất nước cũng có khả năng rơi vào tình trạng tương tự.
Các sông ở bắc Trung Bộ chỉ có thể duy trì mức dòng chảy bình thường từ nay đến cuối năm, lạc quan nhất là với các sông ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Từ giữa đến cuối mùa cạn, dòng chảy các sông ở vùng này giảm với tỷ lệ nhiều hơn so với các sông ở Bắc Bộ, 20-30%, có nơi trên 30%, so với bình thường.
Ở Trung Trung Bộ, sau thời kỳ mực nước dồi dào hơn bình thường cho đến đầu tháng 1/2009, tình trạng sẽ giống ở bắc Trung Bộ đến tháng 4/2009. Ở vùng cực nam Trung Bộ, nguy cơ khô hạn xuất hiện ngay từ bây giờ. Đến cuối mùa cạn, lượng dòng chảy có thể thâm hụt ở mức rất cao, 40%, so với mức TBNN.
Đáng lo là kịnh bản tồi tệ nhất này có thể là hiện thực cho cả vùng Tây Nguyên. Khu vực nam Tây Nguyên có thể khá hơn. Đầu mùa, dòng chảy trên các sông nơi đó ở mức tương đương TBNN cùng kỳ. Nhưng, sau đó, cùng với toàn Tây Nguyên, dòng chảy sẽ thấp hơn 10-20%, có nơi trên 30 - 40%.
Với khu vực Nam Bộ, tình trạng dồi dào nước như hiện nay, cao hơn TBNN 10-20cm. Đến giữa và cuối mùa cạn, mực nước sẽ giảm xuống dưới mức bình thường và điều đó đồng nghĩa với khả năng, khoảng tháng 3-4/2009, thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn sâu vào đất liền ở Nam Bộ dễ thành hiện thực.
Chịu tác động của La Nina yếu mà lượng mưa và dòng chảy các sông trên toàn quốc giảm là điều bất thường. Chuyên gia Trung tâm BDKTTV đổ lỗi cho bất thường này là do tác động của biến đổi khí hậu.
Vì không tiên lượng được các tình thế thời tiết cực đoan, Trung tâm DBKTTV cũng chỉ lưu ý "chủ động đề phòng đợt rét bất thường" chứ không nói mùa đông năm nay bất thường hơn mọi năm, nhất là so với mùa đông năm ngoái.
Dự báo, đợt rét đậm đầu tiên của vụ đông xuân 2008-2009 có khả năng xảy ra vào cuối tháng 12/2008, đầu tháng 1/2009. So với TBNN (khoảng ngày 23/12), đợt rét này có thể muộn hơn một chút. Cũng có thể, mùa đông năm nay, nhiệt độ trung bình thấp hơn TBNN. Nhưng với so với các bất thường từng xảy ra, không chuyên gia nào dám đoán liệu đợt rét đậm năm nay có muộn bất thường và rét hơn không.
Ngay những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12/2007, rét đậm bất thường đã xảy ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, chứ không phải đợi đến cuối tháng 12 như TBNN. Nhiệt độ nhiều nơi vào thời điểm này cũng xuống mức kỷ lục.
Đề cập tình huống ba bốn đợt rét đậm có thể xảy ra từ tháng 1-3/2009, cũng không khó có thể nói là bất thường so với nhiều năm. Theo TS Nguyễn Lan Châu, riêng tháng 12 năm ngoái, xảy ra năm đợt gió mùa đông bắc. Từ tháng 1-2/2008, xảy ra liên tiếp bảy đợt rét đậm, rét hại. Điểm này đã tạo ra đợt rét đậm, rét hại dài nhất trong 40 năm qua.
Tín hiệu tích cực cục bộ là, từ nay cho đến cuối năm 2008, do mưa nhiều trên diện rộng vừa qua, dòng chảy trên các sông ở Bắc Bộ có khả năng ở mức xấp xỉ trên trung bình nhiều năm (TBNN) cùng thời kỳ.
Trên sông Đà, dòng chảy toàn mùa đến hồ thủy điện Hòa Bình và Tuyên Quang ở mức bình thường kể từ năm 1971 và vì thế, chưa thấy nguy cơ thiếu nước cho hai nhà máy thủy điện. Cho nên, ở hạ du sông Hồng và sông Thái Bình, dòng chảy đến tháng 2/2009, cũng tương đối dồi dào so với TBNN.
Những tháng cuối cùng của mùa cạn, tháng 2-4/2009, dòng chảy hai con sông này vẫn duy trì ở mức xấp xỉ bình thường. Người ta thậm chí lạc quan dự báo mực nước thấp nhất tại trạm thủy văn Hà Nội có khả năng ở mức 0,9m, vào thời điểm giữa mùa cạn (tháng 2-3/2009). Trên sông Thái Bình, mực nước thấp nhất tại trạm Phả Lại cũng không thấp hơn bình thường.
Tuy nhiên, xét trên bình diện tổng thể, tình hình có vẻ ngược lại. Ba tháng đầu năm 2009, tương đương với cuối vụ đông-xuân, dòng chảy trên hầu hết các sông suối toàn quốc có thể thiếu hụt so với mức bình quân gần 40 năm qua.
Theo TS Nguyễn Lan Châu, Phó Giám đốc Trung tâm DBKTTV, toàn vùng Bắc Bộ, trong ba tháng đầu năm 2009, dòng chảy các sông có khả năng thiếu hụt khoảng 5 - 10% so với TBNN. Các vùng còn lại của đất nước cũng có khả năng rơi vào tình trạng tương tự.
Các sông ở bắc Trung Bộ chỉ có thể duy trì mức dòng chảy bình thường từ nay đến cuối năm, lạc quan nhất là với các sông ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Từ giữa đến cuối mùa cạn, dòng chảy các sông ở vùng này giảm với tỷ lệ nhiều hơn so với các sông ở Bắc Bộ, 20-30%, có nơi trên 30%, so với bình thường.
Ở Trung Trung Bộ, sau thời kỳ mực nước dồi dào hơn bình thường cho đến đầu tháng 1/2009, tình trạng sẽ giống ở bắc Trung Bộ đến tháng 4/2009. Ở vùng cực nam Trung Bộ, nguy cơ khô hạn xuất hiện ngay từ bây giờ. Đến cuối mùa cạn, lượng dòng chảy có thể thâm hụt ở mức rất cao, 40%, so với mức TBNN.
Đáng lo là kịnh bản tồi tệ nhất này có thể là hiện thực cho cả vùng Tây Nguyên. Khu vực nam Tây Nguyên có thể khá hơn. Đầu mùa, dòng chảy trên các sông nơi đó ở mức tương đương TBNN cùng kỳ. Nhưng, sau đó, cùng với toàn Tây Nguyên, dòng chảy sẽ thấp hơn 10-20%, có nơi trên 30 - 40%.
Với khu vực Nam Bộ, tình trạng dồi dào nước như hiện nay, cao hơn TBNN 10-20cm. Đến giữa và cuối mùa cạn, mực nước sẽ giảm xuống dưới mức bình thường và điều đó đồng nghĩa với khả năng, khoảng tháng 3-4/2009, thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn sâu vào đất liền ở Nam Bộ dễ thành hiện thực.
Chịu tác động của La Nina yếu mà lượng mưa và dòng chảy các sông trên toàn quốc giảm là điều bất thường. Chuyên gia Trung tâm BDKTTV đổ lỗi cho bất thường này là do tác động của biến đổi khí hậu.
Vì không tiên lượng được các tình thế thời tiết cực đoan, Trung tâm DBKTTV cũng chỉ lưu ý "chủ động đề phòng đợt rét bất thường" chứ không nói mùa đông năm nay bất thường hơn mọi năm, nhất là so với mùa đông năm ngoái.
Dự báo, đợt rét đậm đầu tiên của vụ đông xuân 2008-2009 có khả năng xảy ra vào cuối tháng 12/2008, đầu tháng 1/2009. So với TBNN (khoảng ngày 23/12), đợt rét này có thể muộn hơn một chút. Cũng có thể, mùa đông năm nay, nhiệt độ trung bình thấp hơn TBNN. Nhưng với so với các bất thường từng xảy ra, không chuyên gia nào dám đoán liệu đợt rét đậm năm nay có muộn bất thường và rét hơn không.
Ngay những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12/2007, rét đậm bất thường đã xảy ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, chứ không phải đợi đến cuối tháng 12 như TBNN. Nhiệt độ nhiều nơi vào thời điểm này cũng xuống mức kỷ lục.
Đề cập tình huống ba bốn đợt rét đậm có thể xảy ra từ tháng 1-3/2009, cũng không khó có thể nói là bất thường so với nhiều năm. Theo TS Nguyễn Lan Châu, riêng tháng 12 năm ngoái, xảy ra năm đợt gió mùa đông bắc. Từ tháng 1-2/2008, xảy ra liên tiếp bảy đợt rét đậm, rét hại. Điểm này đã tạo ra đợt rét đậm, rét hại dài nhất trong 40 năm qua.