Nhảy đến nội dung

Trình tự, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của luật đất đai năm 2003

Nghe bài viết Play Pause
Luật Đất đai và Nghị định về thi hành Luật Đất đai năm 2003 đã quy định rõ về trình tự, thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KNTC về đất đai, cụ thể: Tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp dân sự trong lĩnh vực đất đai, vì vậy điều đầu tiên về các qui định trong lĩnh vực này là Nhà nước khuyến khích hoà giải tranh chấp đất đai theo các trình tự, thẩm quyền giải quyết như sau:


Trình tự: Các bên tranh chấp đất đai phải chủ động gặp gỡ để tự hoà giải, nếu không tự hoà giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hoà giải, việc hoà giải được lập thành văn bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hoà giải thành hoặc hoà giải không thành của UBND xã, phường, thị trấn. Đối với trường hợp hoà giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, chủ sử dụng thì UBND xã, phường, thị trấn gửi biên bản hoà giải đến Phòng TN và MT đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp khác; biên bản hoà giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.


Thẩm quyền: Giải quyết tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp có giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc có 1 trong các loại giấy tờ sau đây thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự gồm: những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà Miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính, giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận đã sử dụng trước ngày 15/10/1993, giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có 1 trong các loại giấy tờ quy định trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; bản án; quyết định của toà án nhân dân, quyết định thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành mà hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án, quyết định đó.


Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có 1 trong các loại giấy tờ đã nêu ở phần trên thì việc giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính các cấp theo quy định cụ thể như sau:


Sau khi UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đã hoà giải tranh chấp đất đai nhưng không thành mà các bên vẫn tiếp tục tranh chấp thì gửi đơn đến Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để được giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn của đương sự, cơ quan có thẩm quyền là chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giải quyết tranh chấp đất đai (quyết định giải quyết lần đầu) trong thời hạn không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết; nếu không đồng ý thì một hoặc các bên tranh chấp có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong thời hạn 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn của đương sự, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giải quyết tranh chấp đất đai; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định giải quyết có hiệu lực pháp luật.


Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với hộ gia đình, cá nhân, công đồng dân cư với nhau, trong thời hạn klhông quá 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn của đương sự, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định giải quyết tranh chấp đất đai (quyết định giải quyết lần đầu) trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định; nếu không đồng ý thì một hoặc các bên tranh chấp đất đai có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết có hiệu lực pháp luật.


Các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại là: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục địch sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất và hành vi hành chính bị khiếu nại là hành vi cán bộ, công chức Nhà nước khi giải quyết khi giải quyết công việc để cấp có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại.


Trong quá trình giải quyết, Nhà nước không xem xét giải quyết yêu cầu đòi lại đất mà nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15/10/1993 gồm các trường hợp như: đất bị tịch thu, trưng thu, trưng mua khi thực hiện các cải cách ruộng đất ở miền Bắc, chính sách xoá bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam; đất đã hiến tặng cho Nhà nước, cho HTX và tổ chức khác, cho hộ gia đình, cá nhân; đất đã góp vào HTXNN theo quy định của Điều lệ HTX nông nghiệp bậc cao; đất thổ cư mà nhà nước đã giao cho người khác để làm nhà ở; đất ở và đất vườn đã giao lại cho HTX để đi khai hoang; ruộng đất đã bị thu hồi để giao cho người khác hoặc điều chỉnh cho người khác khi giải quyết tranh chấp ruộng đất; đất đã chia cho người khác khi hưởng ứng cuộc vận động san sẻ một phần ruộng đất để chia cho người không có ruộng và thiếu ruộng tại miền Nam sau ngày giải phóng và không xem xét giải quyết các trường hợp thời hiệu khiếu nại và thời hạn khiếu nại đã hết...

Tác giả bài viết: