Nhảy đến nội dung

Làm rõ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và bộ Luật Dân sự năm 2005

Nghe bài viết Play Pause
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;”
Như vậy, theo quy định trên thì người đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính của xã trước ngày 15/10/1993 và sử dụng liên tục từ đó đến ngày xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), không có tranh chấp là đủ điều kiện để được cấp GCN quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại Điều 632 Luật Dân sự 2005 quy định về quyền bình đẳng về thừa kế của hộ gia đình, cá nhân đã ghi: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.”
Tại Điều 674 quy định về thừa kế theo pháp luật đã ghi:
“Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.”
Điều 676 quy định về người thừa kế theo pháp luật đã ghi:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…”
Như vậy, căn cứ theo quy định của Luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 tại phần thừa kế đã quy định khác với quy định trên của Luật Đất đai.
Ví dụ cụ thể là: Có một cặp vợ chồng sinh được hai người con trai, cặp vợ chồng này có đất thổ cư trước năm 1980. Năm 1984 ông bố chết, con trai cả lấy vợ và ở cùng mẹ. Năm 1986, con trai thứ 2 lấy vợ và đi ở riêng.
Năm 1988, xã tiến hành đo đạc lập bản đồ 299 và hồ sơ địa chính của xã. Sau khi đo đạc xong, anh con trai cả (ông A) đã đăng ký đứng tên chủ sử dụng đất tại thửa đất của mẹ (bố đã chết năm 1984, đến năm 2006 bà mẹ cũng qua đời) và sử dụng liên tục từ đó đến năm 2008 thì ông A xin đăng ký cấp GCN QSDĐ. Căn cứ theo khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai, UBND xã đã xét cấp GCN QSDĐ cho ông A, sau đó ông A được UBND huyện cấp GCN QSDĐ.
Đến năm 2012, anh con trai thứ 2 (ông B) có đơn xin được thừa kế 1/2 thửa đất với lý do là bố mẹ khi còn sống đã nói là cho anh 1/2 thửa đất nhưng không có văn bản gì lưu lại. Sau đó ông B lại đòi được thừa kế theo pháp luật 1/2 diện tích thửa đất nêu trên.
Như vậy: Đối với ông A (con trai cả) đã đăng ký sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 ngay sau khi xã đo đạc xong bản đồ 299 và tổ chức kê khai đất đai trong toàn xã, mặt khác việc ông A đăng ký khi đó mẹ ông A còn sống không có ý kiến gì. Khi đăng ký cấp GCN QSDĐ, UBND xã cũng đã công khai hồ sơ theo thời gian quy định, không có tranh chấp, khiếu kiện gì xảy ra. Như vậy theo quy định của Luật Đất đai thì ông A có đủ điều kiện để được cấp GCN QSDĐ.
Đối với ông B: Đã đi ở riêng từ năm 1986, đã có thửa đất ở riêng, không có tên trong sổ hộ khẩu của ông A, không có di chúc của bố mẹ để lại, theo quy định của Luật Đất đai thì ông B không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất của bố mẹ để lại cho ông A từ trước năm 1993. Tuy nhiên, đến nay ông B căn cứ vào quy định của Luật Dân sự tại phần thừa kế theo pháp luật (tại Điều 674 nêu trên) nên ông B đòi được hưởng 1/2 thửa đất theo pháp luật (ông B nói rằng tại thời điểm công khai hồ sơ cấp GCN QSDĐ của hộ ông A, thì ông B không biết nên không có ý kiến gì). 
Theo một số ý kiến cho rằng việc ông B đòi thừa kế theo pháp luật là chính đáng và phải chia cho ông B 1/2 diện tích thửa đất, hoặc nếu không phải quy thửa đất ra thành tiền để ông A trả lại cho ông B 1/2 giá trị thửa đất, nếu không ông B sẽ kiện ra Tòa án để giải quyết với lý do: Thửa đất do ông A đứng tên đăng ký sử dụng nhưng có nguồn gốc là của bố mẹ ông A và ông B, không phải là đất do Nhà nước giao cho ông A, do đó thửa đất đó là tài sản chung của ông A và ông B vì là cùng hàng thừa kế thứ nhất (vì bố mẹ không để lại di chúc).
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng việc cấp GCN QSDĐ cho ông A là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, mặt khác tại thời điểm xã tổ chức kê khai đăng ký QSDĐ mẹ ông A không đứng ra đăng ký mà lại để cho ông A đăng ký, như vậy là đã thừa nhận QSDĐ của con mình (ông A) từ năm 1988 đến khi bà chết đi năm 2006.
Từ các quy định của pháp luật nêu trên và tình hình thực tế là ông B vẫn có đơn đề nghị UBND xã xem lại việc xét cấp GCN QSDĐ cho hộ ông A là chưa đúng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông B, do đó Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tam Nông nêu lên sự việc trên để các cơ quan có liên quan cũng như các bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực này cùng nhau trao đổi, thảo luận và góp ý với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tam Nông về sự việc trên.     
 
 

Tác giả bài viết:  Phòng TN và MT huyện Tam Nông