Kháng sinh là chất có nguồn gốc
từ vi sinh vật hoặc tổng hợp, bán tổng hợp với liều điều trị có tác dụng ngăn
cản hay diệt vi sinh vật gây bệnh trong cơ thể vật nuôi. Hầu hết các
kháng sinh có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt vi khuẩn, chỉ có một số rất ít có
tác dụng với các bệnh do nấm, ký sinh trùng và siêu vi trùng. Kháng sinh chiếm
60-70% các loại thuốc được sử dụng; phong phú về chủng loại và biệt dược, được
phân loại chủ yếu dựa trên nhóm hóa học kết hợp với cơ chế tác dụng của chúng.
Theo Cục thú y Trung ương, hiện có trên 4000 sản phẩm được sử dụng trong thú y
có mặt tại thị trường Việt Nam trong số gần 6000 sản phẩm kháng sinh được
nghiên cứu, đưa vào sử dụng.
Hiện nay, kháng sinh có mặt trong
tất cả quy trình chăn nuôi: trong thức ăn do nhà sản xuất đưa vào, chủ trang
trại sử dụng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, kích thích sinh trưởng; kháng
sinh đem lại ý nghĩa quan trọng trong phòng và chữa bệnh cho vật nuôi.
Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng kháng
sinh trong phòng chữa bệnh cho vật nuôi dẫn đến vi khuẩn kháng kháng sinh, vi
khuẩn đột biến gen, sự tồn dư kháng sinh trong thực phẩm là vấn đề bức xúc
trong những năm gần đây được đặc biệt quan tâm. Vi khuẩn kháng kháng sinh với
nhiều loại kháng sinh phổ biến (đã sử dụng lâu) như: Penicilin, Streptomycin, Tetracyclin… dẫn đến khó khăn trong công tác phòng và chữa bệnh cho vật nuôi, sự tồn
dư kháng sinh trong thực phẩm dẫn đến sản phẩm chăn nuôi không an toàn vệ sinh
thực phẩm, làm tăng chi phí trong chăn nuôi.
Trước thực trạng trên, ngày 31/5/2016, Bộ Nông nghiệp và PTNTT
đã ban hành Thông tư số 06/2016/TT-BNNPTNT, chỉ cho phép sử dụng 15 loại kháng
sinh với mục đích kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi có hàm lượng quy định;
trong một sản phẩm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, chỉ được sử dụng tối đa
02 loại kháng sinh, phải có căn cứ khoa học; tổ chức, cá nhân chỉ được sử dụng Premix
có hàm lượng kháng sinh không vượt quá 20% để trộn vào thức ăn hỗn hợp, các
loại kháng sinh được phép sử dụng bao gồm: Bambermycins,
BMD, Chlortetracycline, Colistin sulphate,
Enramycin, Kitasamycin, Lasalocid sodium,
Lincomycin, Monensin, Narasin, Neomycin sulphate, Nosiheptide, Salinomycin sodium, Tylosin phosphate,
Virginiamycin.
Đồng thời, tại Thông
tư số 10/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT cấm tuyệt
đối sử dụng các loại kháng sinh: Chloramphenicol,
Ciprofloxacin, Ofloxacin, Carbadox, Olaquidox... do lượng tồn dư trong động
vật, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Các quy định mới về sử dụng kháng sinh
đều theo hướng giảm dần việc sử dụng với mục đích kích thích sinh trưởng, phòng
chữa bệnh cho vật nuôi.
Hiện nay,
nhiều người chăn nuôi đã chủ động học hỏi, trao đổi, nghiên cứu và sử dụng
kháng sinh để tự phòng và trị bệnh cho đàn vật nuôi. Tuy nhiên, trước thực
trạng nêu trên, để sử dụng kháng sinh hiệu quả và an toàn, người chăn nuôi cần
lưu ý một số vấn đề sau:
1. Những nguyên
tắc khi sử dụng kháng sinh:
- Chọn kháng sinh đúng với bệnh vì mỗi loại kháng sinh có
tác dụng đặc hiệu với một hay một vài loại vi khuẩn nhất định. Ngay từ đầu, dùng 2 - 3 liều cao hơn 1,5
- 2 lần liều chỉ định (gọi là liều tấn công), sau đó dùng liều duy trì; không
dùng liều thấp tăng dần để tránh hiện tượng vi khuẩn nhờn thuốc. Dùng thuốc đủ
liều trong cả đợt điều trị, nếu sau khoảng 5 - 6 ngày điều trị không có hiệu
quả (thấy bệnh không chuyển biến) thì nên thay kháng sinh, hoặc phối hợp với
kháng sinh khác. Sau khi hết những triệu chứng lâm sàng, nên dùng thuốc thêm ít
nhất 02 ngày nữa để kháng sinh tiêu diệt hoàn toàn mầm bệnh.
- Dùng kháng sinh ở thời điểm
thích hợp trong một ngày, theo khoảng thời gian nhất định để duy trì nồng độ của
thuốc liên tục ổn định trong máu và các mô bào cho tới khi khỏi bệnh. Căn cứ
vào đặc điểm của thuốc mà cho con vật uống trước hay sau bữa ăn, tiêm một lần
hay chia nhiều lần: thuốc có phân hủy trong dịch vị không; tốc độ hấp thu, đào
thải nhanh hay chậm; bài tiết qua cơ quan nào.
- Cần phối hợp kháng sinh
thích hợp với từng loại vi khuẩn, tuy nhiên phải nắm vững đến tính tương kỵ hay
tính hiệp đồng các loại kháng sinh dùng phối hợp. Chọn kháng sinh thích hợp để tránh các hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc.
Ví dụ: Tụ cầu tiết men Penicilanaza kháng
các thuốc PenicilinG, Ampicilin, Colistin;
Liên cầu trùng dung huyết kháng Penicilin,
Gentamycin... để giảm hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc nên dùng kháng sinh
phổ hẹp, dùng đúng chỉ định, liều lượng.
- Trong thời gian điều trị cho vật nuôi bằng kháng sinh,
nên kết hợp bổ sung thêm các loại Vitamin,
đặc biệt là Vitamin nhóm B; sử dụng khẩu
phần chất lượng cao, giàu dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi, bổ
sung đường Glucoza đối với gia súc
non, già, yếu. Không dùng kháng sinh
trong những trờng hợp: Penicilin
không dùng đối với gia súc có tiền sử choáng, dị ứng; Penicilin chậm, Tetracyclin,
Streptomycin, Gentamycin, Kanamycin Sulfamid không dùng cho gia súc sơ
sinh; Sulfamid, Tetracyclin, Rifampicin,
Bactrim không dùng cho gia súc có thai và đang nuôi con bằng sữa mẹ.
2. Những biến
chứng khi sử dụng kháng sinh:
Khi dùng kháng sinh tiêm, uống hoặc tiếp xúc với kháng
sinh (Penicilin, Streptomycin...) thường
gặp hiện tựợng sốc phản vệ do kháng sinh gây ra với những biểu hiện: con vật loạng
choạng, khó thở, mạch nhanh, không đều, huyết áp tụt thấp, có con biểu hiện co
giật, nổi ban, hôn mê và có thể chết. Nhẹ hợn xuất hiện những phản ứng dị ứng, có
thể xuất hiện ở nhiều cơ quan khác nhau: trên da, hô hấp, tim mạch, gan, thận,
thần kinh với các mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng, cũng có khi dẫn đến chết.
Biến chứng sau tiêm kháng sinh
gây bệnh huyết thanh: Sau khi dùng kháng sinh (Penicilin, Streptomycin, Sulfamid...) vào ngày thứ 2 đến ngày thứ
14. Con vật bỏ ăn, mệt mỏi, ủ rũ, có triệu chứng buồn
nôn, đi loạng choạng, xiêu vẹo do đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao, mẩn đỏ
toàn thân. Chẩn đoán chính xác và ngừng ngay kháng sinh, con vật sẽ mất dần triệu
chứng, tiếp tục dùng kháng sinh và tăng liều lượng sẽ làm bệnh càng nặng và
dẫn đến trụy tim mạch và chết.
Biểu hiện ở da: Nổi
mề đay, mẩn ngứa, phù mí mắt, phù thanh quản, viêm da, chấm xuất huyết ngoài
da, ngừng sử dụng kháng sinh. Biểu
hiện ở hệ máu: khi dùng kháng sinh liều cao, gây thiếu máu dung huyết
cấp tính với các triệu chứng: sốt cao, con vật run rẩy, hạ nhiệt độ, buồn nôn
và nôn, chảy máu mũi, vàng da. Xét nghiệm máu lúc này hồng cầu giảm, bạch cầu
trung tính giảm, số lượng bạch cầu khác lại tăng lên.
Nếu tình trạng con vật bị biến chứng nặng do sử
dụng kháng sinh: cần đưa con vật vào vị trí yên tĩnh, trợ sức bằng đường Glucoza, điện giải; sử dụng các loại
thuốc trợ tim, an thần, thuốc kháng Histamin: Cafein, Adrenalin, Dimedron, Promethazin... liều lượng theo Kilogam
thể trọng (sử dụng thận trọng và cân nhắc theo tình trạng sức khỏe con vật).
Muốn phòng biến chứng do kháng
sinh gây ra, ngoài việc chẩn đoán đúng bệnh, lựa chọn kháng sinh đúng chỉ định,
dùng đúng liều lượng thì một trong những khâu bắt buộc là phải thử phản ứng
(Test). Thông thường có bốn cách cơ bản là: test nhỏ giọt trên bề mặt da, test
dưới da, test kích thích qua niêm mạc mũi và test dưới lưỡi; từ kết quả phản
ứng test rồi mới cân nhắc và quyết định sử dụng kháng sinh./.
Hà Đình Long - Chi cục thú y Phú Thọ
