Luật Thú y gồm 7 Chương, 116 Điều; phạm vi điều chỉnh 06
lĩnh vực:
- Phòng bệnh, chữa bệnh, chống dịch bệnh động vật;
- Kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật;
- Kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế, chế biến động vật,
sản phẩm động vật;
- Kiểm tra vệ sinh thú y;
- Quản lý thuốc thú y;
- Hành nghề thú y.
1. Luật Thú y đã đưa ra chính
sách đối với người thực hiện hoạt động thú y theo yêu cầu của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền nếu bị lây nhiễm bệnh, bị thương, chết thì được xem xét, hưởng
chế độ, chính sách như với thương binh, liệt sĩ theo quy định của pháp luật về
ưu đãi người có công với cách mạng.
2. Về phòng, chống dịch
bệnh động vật trên cạn:
- Các biện pháp phòng bệnh bắt buộc cho động vật trên cạn
bao gồm: Thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc định kỳ và phòng bệnh bắt buộc bằng vắc-xin đối với một
số bệnh truyền nhiễm nguy
hiểm theo quy định.
Căn cứ vào đặc điểm dịch tễ, sự lưu hành của các tác nhân
gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở động vật trên địa bàn và hướng dẫn phòng bệnh
bằng vắc xin tại Thông tư số
07/2016/TT-BNNPTNT, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương trình cấp có
thẩm quyền quyết định việc tiêm phòng bắt buộc bằng vác xin đối với bệnh động
vật cụ thể cho phù hợp với điều kiện của địa phương (Đây là quy định hoàn toàn mới).
Đối với cơ sở chăn nuôi gia súc giống, gia cầm giống, bò
sữa ngoài việc thực hiện 02 biện pháp phòng bệnh bắt buộc như trên còn phải
thực hiện thêm việc giám sát định kỳ đối với một số bệnh truyền lây giữa động
vật và người (Điều 3 Thông tư số
07/2016/TT-BNNPTNT).
- Về công bố dịch và công bố hết dịch bệnh động vật trên
cạn có điểm mới đó là: thẩm quyền công bố dịch và công bố hết dịch thuộc Chủ
tịch UBND cấp huyện khi có đủ điều kiện quy định và dịch bệnh xảy ra trong phạm
vi huyện;
3. Về phòng chống dịch
bệnh động vật thủy sản:
Được quy định từ Điều 32 đến Điều 36 Luật Thú y và Thông
tư số 04/2016/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Phòng chống dịch bệnh động vật thủy sản có một số quy
định cần chú ý:
- Việc công bố dịch và công bố hết dịch bệnh động vật
thủy sản thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh;
- Chương IV, Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT đã phân công
trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan quản lý chuyên ngành: Thú y, thủy sản, quản
lý chất lượng nông lâm thủy sản, đơn vị quan trắc môi trường để tránh chồng
chéo.
4. Về kiểm dịch động
vật, sản phẩm động vật (Chương III, Luật Thú y và Thông tư số 25, 26 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT):
Gồm 27 điều (từ Điều 37 đến Điều 63), chia thành 3 mục,
với các điểm mới như sau:
Mục 1. Kiểm dịch động
vật, sản phẩm động vật trên cạn:
Quy định từ Điều 37 đến Điều 52 Luật Thú y và Thông tư số
25/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/6/2016 quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động
vật trên cạn;
Điểm mới của Luật là sửa đổi quy định về nguyên tắc kiểm
dịch động vật, không còn dựa trên “số
lượng lớn, khối lượng lớn” như Pháp lệnh thú y năm 2004; đồng thời chỉ kiểm
dịch khi vận chuyển ra khỏi tỉnh (Pháp lệnh trước đây quy định phải kiểm dịch
cả khi vận chuyển ra khỏi huyện). Việc kiểm dịch động vật,
sản phẩm
động vật (SPĐV) được thực hiện kiểm soát theo
mối nguy cơ về dịch bệnh động vật và có các quy định theo hướng mở đối với việc
vận chuyển động vật, SPĐV trên cạn ra khỏi tỉnh, được thực hiện như sau:
a) Động vật, SPĐV xuất phát từ cơ sở đã được công nhận an toàn dịch bệnh (ATDB)
hoặc từ cơ sở đã được phòng bệnh bằng vắc xin và cơ sở chăn nuôi tham gia chương
trình giám sát dịch bệnh của cơ quan chuyên ngành thú y (CTGS) khi vận chuyển ra khỏi tỉnh, chủ
cơ sở đăng ký với cơ quan chuyên ngành thú y để được cấp Giấy chứng nhận kiểm
dịch (GCNKD) vận chuyển trong thời gian 01 ngày (rút ngắn thời gian so với cơ
sở khác). Đây là một điểm mới của Luật Thú y nhằm tạo điều kiện thông thoáng
trong việc lưu thông động vật, SPĐV trong nước, tránh gây phiền hà sách nhiễu
cho người dân và doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.
b) Đối với động vật, SPĐV xuất phát
từ cơ sở: Thu
gom, kinh doanh; Cơ sở chăn nuôi chưa được giám sát dịch bệnh động vật; Động
vật chưa được phòng bệnh theo quy định tại khoản 4 Điều 15 (Động vật phải được
phòng bệnh bắt buộc đối với bệnh truyền nhiễm nguy hiểm theo yêu cầu của cơ
quan quản lý chuyên ngành thú y) hoặc đã được phòng bệnh bằng vắc-xin nhưng
không còn miễn dịch bảo hộ; Chưa được công nhận ATDB động vật; SPĐV xuất phát từ cơ sở sơ chế, chế biến SPĐV
chưa được định kỳ kiểm tra vệ sinh thú y (KTVSTY); Động vật, SPĐV không
thuộc trường hợp trên khi có yêu cầu của chủ hàng (trừ trường hợp thu gom, kinh doanh): Khi vận chuyển ra khỏi tỉnh tiêu thụ phải thực hiện kiểm dịch theo quy
định; việc kiểm dịch phải được thực hiện tại khu cách ly kiểm dịch hoặc cơ sở
thu gom động vật đảm bảo yêu cầu về vệ sinh thú y theo quy định.
Mục 2. Kiểm dịch động
vật, sản phẩm động vật thủy sản:
Đối với thủy sản thương phẩm: chỉ thực hiện kiểm dịch khi
sản phẩm thủy sản xuất phát từ vùng công bố dịch.
Đối với con giống bắt buộc phải thực hiện kiểm dịch: Đối với các trường hợp động vật, SPĐV thủy sản xuất
phát từ cơ sở đã được công nhận ATDB hoặc từ cơ sở tham gia chương trình giám
sát dịch bệnh của cơ quan chuyên ngành thú y khi vận chuyển ra khỏi tỉnh, chủ
cơ sở đăng ký với cơ quan chuyên ngành thú y để được cấp GCNKD vận chuyển vận chuyển trong thời
gian 01 ngày (rút ngắn thời gian so với cơ sở khác)
5. Về Kiểm soát giết mổ,
kiểm tra vệ sinh thú y (Chương IV, Luật Thú y):
- Điểm mới trong nhóm các quy định
kiểm soát giết mổ đối với giết mổ động vật trên cạn, sơ chế, chế biến sản phẩm
động vật là bổ sung khâu chế biến sản phẩm động vật vào quy trình kiểm soát để
phù hợp với Luật An toàn thực phẩm.
- Việc giết
mổ động vật phải được thực hiện tại
các cơ sở giết mổ động vật tập trung và
phải được cơ quan quản lý chuyên ngành thú y
kiểm soát. Trường hợp tại các vùng nông thôn, các xã miền núi, hải đảo, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn chưa có
cơ sở giết mổ tập trung thì việc giết mổ động vật được thực hiện tại các cơ sở
nhỏ lẻ và đáp ứng yêu cầu vệ sinh thú y (VSTY).
- Tại Điều 76 quy định rõ trách
nhiệm của UBND các cấp trong quản lý hoạt động giết mổ động vật trên cạn; sơ
chế, chế biến, vận chuyển kinh doanh động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ
sinh thú y. Cụ thể: UBND cấp tỉnh có vai trò chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn; UBND
cấp huyện thực hiện việc triển khai quy hoạch cơ sở giết mổ, quản lý cơ sở giết
mổ tập trung, sơ chế, chế biến động vật, sản phẩm động vật; UBND cấp xã thực
hiện việc quản lý hoạt động của cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, chợ kinh doanh động vật,
sản phẩm động vật trên địa bàn.
6. Về quản lý thuốc thú
y
(Chương V, Luật Thú y):
Chương này có 29 điều (từ Điều 78 đến Điều 106), chia làm
4 mục, gồm: quản lý thuốc và đăng ký thuốc thú y; khảo nghiệm thuốc thú y; sản
xuất, buôn bán, nhập khẩu, xuất khẩu thuốc thú y và thu hồi, tiêu hủy thuốc thú
y.
Luật Thú y quy định rõ các loại thuốc thú y phải được
quản lý chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật và phải đảm bảo về chất lượng mới
được phép lưu hành tại Việt Nam. Căn cứ
Luật Thú y, Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Thông tư số
13/2016/TT-BNNPTNT ngày 02/6/2016 quy định về quản lý thuốc thú y. Các văn bản có
một số quy định mới:
- Buôn bán thuốc thú y là ngành
nghề kinh doanh có điều kiện theo đó tổ chức, cá nhân buôn bán thuốc thú y phải
thỏa mãn các điều kiện: Cơ sở buôn bán thuốc thú y phải có Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; có địa điểm, cơ sở vật
chất, kỹ thuật phù hợp; người quản lý, người trực tiếp bán thuốc thú y phải có
Chứng chỉ hành nghề thú y; có Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc thú
y.
- Giấy chứng nhận đủ điều kiện
buôn bán thuốc thú y có hiệu lực là 5 năm (trước đây là 02 năm);
- Việc quảng cáo thuốc thú y phải được cơ quan quản lý
chuyên ngành thú y cấp tỉnh xác nhận nội dung được quy định tại Điều 41, 42, 43
của Thông tư số 13/2016/TT-BNNPTNT ngày 02/6/2016;
7. Về Hành nghề thú y (Chương VI, Luật Thú y):
Chương này có 8 điều (từ Điều 107 đến Điều 114).
Theo đó, Luật mới quy định có 04 loại hình hành nghề thú
y (Pháp lệnh thú y năm 2004 quy định có
06 loại hình hành nghề thú y), gồm:
- Tiêm phòng, chữa bệnh, phẫu thuật động vật; tư vấn các
hoạt động liên quan đến lĩnh vực thú y;
- Khám bệnh, chẩn đoán bệnh, xét nghiệm bệnh động vật;
- Buôn bán thuốc thú y;
- Sản xuất, kiểm nghiệm, khảo nghiệm, xuất khẩu, nhập
khẩu thuốc thú y.
Trong đó, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y cấp tỉnh
quản lý 03 loại hình hành nghề (trừ Sản xuất, kiểm nghiệm, khảo nghiệm, xuất
khẩu, nhập khẩu thuốc thú y thuộc thẩm quyền quản lý của Cục Thú y).
Nghị định số 35/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều của Luật Thú y có điểm mới về Yêu cầu về chuyên
môn; phạm vi sử dụng CCHN:
Yêu cầu về chuyên môn:
- Người hành nghề chẩn đoán, chữa bệnh, phẫu thuật động
vật, tư vấn các hoạt động liên quan đến lĩnh vực thú y tối thiểu phải có bằng trung
cấp chuyên ngành thú y, chăn nuôi thú y hoặc trung cấp nuôi trồng thuỷ sản,
bệnh học thủy sản đối với hành nghề thú y thuỷ sản;
- Người hành nghề tiêm phòng cho động vật phải có chứng
chỉ tốt nghiệp lớp đào tạo về kỹ thuật do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền cấp tỉnh cấp.
- Người phụ trách kỹ thuật của cơ sở phẫu thuật động vật,
khám bệnh, chẩn đoán bệnh, xét nghiệm bệnh động vật phải có bằng Đại học trở
lên chuyên ngành thú y, chăn nuôi thú y hoặc nuôi trồng thuỷ sản, bệnh học thủy
sản đối với hành nghề thú y thuỷ sản.
- Người buôn bán thuốc thú y phải có bằng trung cấp trở
lên chuyên ngành thú y, chăn nuôi thú y hoặc trung cấp nuôi trồng thuỷ sản,
bệnh học thủy sản đối với hành nghề thú y thuỷ sản.
Phạm vi sử dụng Chứng chỉ hành nghề thú y:
Chứng chỉ hành nghề thú y về tiêm phòng, chẩn đoán, chữa
bệnh, phẫu thuật động vật, tư vấn các hoạt động liên quan đến lĩnh vực thú y
được sử dụng trong phạm vi cả nước.
Chứng chỉ hành nghề thú y của người phụ trách kỹ thuật
tại cơ sở phẫu thuật động vật, khám bệnh, chẩn đoán bệnh, xét nghiệm bệnh động
vật, buôn bán thuốc thú y được sử dụng trong phạm vi tỉnh.
Tại Điều 114, Luật Thú y bổ sung nội dung mới là Hội đồng
thú y; căn cứ điều này, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số
12/2016/TT-BNNPTNT ngày 02/6/2016 quy định tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của Hội đồng thú y các cấp.
Luật Thú y có nhiều điểm mới tiến bộ, phù hợp các quy
định quốc tế. Các quy định điều chỉnh hoạt động theo hướng tái cơ cấu ngành
chăn nuôi, đảm bảo kiểm soát ATTP. Việc áp dụng Luật Thú y vào cuộc sống đạt
hiệu quả, đòi hỏi phải có sự tham gia của các cấp, các ngành và đặc biệt sự
tham gia của người dân.
DANH MỤC CÁC VĂN BẢN
PHÁP LUẬT VỀ THÚ Y MỚI BAN HÀNH
1. Luật Thú y số 79/2015/QH13 được Quốc hội Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19/6/2015; có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/7/2016;
2. Nghị định số 35/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính
phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thú y;
3. Quyết định số 16/QĐ-TTg ngày 29/4/2016 của Thủ tướng
Chính phủ quy định việc thành lập và tổ chức, hoạt động của Ban chỉ đạo phòng,
chống dịch bệnh động vật các cấp;
4. Thông tư số 04/2016/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2016 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật thủy sản;
5. Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn;
6. Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT quy định về kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y;
7. Thông tư số 10/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT Ban hành Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành, cấm sử
dụng ở Việt Nam, công bố mã HS đối với thuốc thú y nhập khẩu được phép lưu hành
ở Việt Nam;
8. Thông tư số 11/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT quy định trang phục, phù hiệu, cấp hiệu, biển hiệu, thẻ
kiểm dịch động vật;
9. Thông tư số 12/2016/TT-BNNPTNT ngày 02/6/2016 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT quy định tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội
đồng thú y các cấp;
10. Thông tư số 13/2016/TT-BNNPTNT ngày 02/6/2016 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT quy định về quản lý thuốc thú y;
11. Thông tư số 14/2016/TT-BNNPTNT ngày
02/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh
động vật;
12. Thông tư số 25/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/6/2016 của Bộ
Nông nghiệp và PTNT quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn;
13. Thông tư số
26/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về kiểm
dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản;