Nhảy đến nội dung

Một số vấn đề sơ bộ về đất tôn giáo

Nghe bài viết Play Pause
Nhà nước ta, trước sau như một khẳng định thực hiện chính sách “ Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” mà  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 3/9/1945, khẳng định Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phân nhân dân, đạo đức của tôn giáo có nhiều điều phù hợp với đạo đức truyền thống của dân tộc, với nội dung xây dựng xã hội mới tăng cường đoàn kết nhân dân.   

Trong từng thời kỳ lịch sử, Đảng và Nhà nước ta  đã có những chính sách phù hợp  đối với vấn đề tín ngưỡng và tôn giáo, trong đó chính sách đất đai đối với tôn giáo nhằm đảm bảo có nơi thờ tự, có đất sản xuất để nuôi sống những người tu hành, tiền nhang khói và tu sửa nơi thờ tự.

Nước ta có nhiều tổ chức tôn giáo. Hiện nay,  nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân cho 12 tôn giáo gồm: 1. Phật giáo; 2. Công giáo; 3.Đạo Tin lành ( có 9 hệ phái được công nhận); 4.Đạo Cao đài( Có 10 tổ chức, hệ phái được công nhận; 5. Phật giáo Hoà Hảo; 6. Hồi giáo ( ở 3 địa phương: Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo ở Thành phố Hồ Chí Mịnh; Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang;Hội đồng Sư cả Bàni tỉnh Ninh Thuận); 7.Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam; 8.Đạo Baha i ; 9. Minh lý đạo –Nam tông Miếu; 10. Giáo hội Phật đường Nam Tông Minh sư đạo;11. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương; 12. Đạo Tứ ân Hiếu Nghĩa. Tổng số đến nay Nhà nước đã công nhận  về tổ chức cho 32 tổ chức của 12 tôn giáo kể trên. Hiện nay, cả nước có khoảng trên 23 triệu tín đồ các tôn giáo, trong đó Phật giáo có gần 10 triệu, Công giáo 5,9 triệu,  Cao Đài 3,2 triệu, Phật giáo Hoà Hảo khoảng 1,4 triệu, Tịnh độ cư sĩ Phật hội 1, 4 triệu; Tin lành gần 1 triệu ; Tứ Ân Hiếu nghĩa 78.000; Hồi giáo có 67.000; Ngũ Chí Minh Chân Đạo khoảng 10.000 tín đồ…

 Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là hiện nay, không khí sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở  Việt Nam ngày càng sôi động và đang có chiều hướng gia tăng. Lễ hội trong các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức rầm rộ với quy mô ngày một lớn, diễn ra trên khắp mọi miền đất nước.  Giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ Nô En, Lễ Phật Đản và những  buổi lễ quan trọng khác của các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian đã trở thành ngày hội chung của toàn dân, lôi cuốn hàng triệu đồng bào trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài tham gia.

 ở Việt Nam, tín đồ tôn giáo hầu hết là nhân dân lao động. Tín đồ chức sắc tôn giáo đã và đang yên tâm hành đạo, tin tưởng ở chính sách đối với tín ngưỡng tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Họ gắn bó với  dân tộc theo đường hướng” Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”;  Tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, gắn đạo với đời, thực hiện “ Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”; “ nước vinh , đạo sáng”; với tấm lòng” Kính chúa, yêu nước”, vừa hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với Tổ quốc, vừa làm tròn bổn phận  của một tín đồ  đối với tôn giáo , hăng hái thi đua lao động sản xuất, tham gia các hoạt động xã hội, góp phần  xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh.

Vấn đề sở hữu đất đai, Hiến pháp, Luật đất đai quy định “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”, có nghĩa là là đất đai mà tôn giáo đang sử dụng không thuộc quyền sở hữu của tôn giáo  mà thuộc quyền sở hữu toàn dân. Nhà nước giao đất cho tôn giáo sử dụng, tôn giáo có quyền sử dụng đất đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng đất. Nhà nước có một số ưu đãi như : không phải nộp tiền sử dụng đất, không phải nộp thuế sử dụng đất, được cấp giấy chứng  nhận Quyền sử dụng đất ổn định lâu dài.

Về quyền sở hữu tài sản, theo quy định của Bộ Luật dân sự, tài sản của tôn giáo là tài sản thuộc sở hữu chung chứ không phải thuộc quyền sở hữu của cá nhân tôn giáo hoặc tổ chức tôn giáo mà của cộng đồng các tín đồ. Tài sản chung của cộng đồng là tài sản thuộc loại hình sở hữu chung hợp nhất, không thuộc sở hữu chung theo phần, không phân chia được.

Trong tổng thể chung về đất đai của cả nước, giá trị kinh tế của các cơ sở thờ tự cũng như của diện tích đất sử dụng làm cơ sở thờ tự không lớn, song giá trị tinh thần của các cơ sở thờ tự đối với đồng bào theo tôn giáo là là rất lớn. Cơ sở thờ tự được cộng đồng  coi là nơi thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

Theo thống kê,  cả nước hiện nay có 21.534 cơ sở thờ tự gắn với đất đai tôn giáo(Trong đó Phật giáo có 14.014 ngôi chùa, tịnh xá, nhà niệm, phật đường; Công giáo có 6.003 nhà thờ, nhà nguyện, dòng tu; Tin lành có 437 nhà thờ, nhà nguyện; Cao đài có 896 thánh thất, điện thờ; Phật giáo Hoà hảo  có 115 chùa, 108 cơ sở khác; Hồi giáo có 71 đền thờ). 99% cơ sở tôn giáo là cơ sở cũ, đã có từ nhiều chục năm nay, số đất giao mới, cơ sở xây dung mới rất ít. Về cơ bản, đại đa số các cơ sở thờ tự này hoạt động bình thường, đất đai được sử dụng ổn định không có tranh chấp khiếu kiện.  Tuy nhiên do điều kiện lịch sử để lại, tình hình khiếu kiện liên quan đến đất đai tài sản  của cơ sở tôn giáo ở một số địa phương đã xuất hiện và có xu hướng gia tăng.  Trong những dạng tranh chấp , khiếu nại  thì dạng cơ sở tôn giáo khiếu nại đòi lại đất đã cho dân thuê, mượn hoặc bị lấn chiếm, chiếm số lượng lớn và phức tạp. Đối với dạng tôn giáo khiếu nại đòi lại nhà, đất  đã cho chính quyền mượn hoặc nhà nước quản lý và đã sử dụng vào các mục đích chiếm số lượng ít vì phần lớn nhà đất đã được sử dụng vào mục đích công, nhưng gần đây đã xuất hiện một số vụ việc phức tạp. Đường lối xử lý, giải quyết những tranh chấp, khiếu nại về đất đai liên quan đến tôn giáo  cảu Nhà nước không có sự phân biệt mà căn cứ vào các quy định của pháp luật về đất đai và các luật có liên quan.Đối với tranh chấp, khiếu kiện đất đai trong nội bộ tôn giáo, chính quyền các cấp khuyến khích và tạo điều kiện để nội bộ tôn giáo tự hoà giải, thương lượng. Cơ quan nhà nước chỉ can thiệp khi  trong những trường hợp cần thiết hoặc khi các bên có yêu cầu.

 Để tăng cường quản lý đối với  đất tôn giáo, cần nhanh chóng hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với những cơ sở  tôn giáo, nơi thờ tự đã sử dụng  ổn định.

Giữ nguyên hiện trạng đất  đối với những cơ sở tôn giáo đã có, chỉ được xây dựng thêm, mở rộng một số cơ sở khi có nhu cầu thật cần thiết, được uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép, nhiêm cấm việc xây dựng tràn lan làm phát sinh các vấn đề phức tạp về  trật tự an ninh xã hội.Về nhu cầu sử dụng đất  của các tôn giáo : Nhu cầu hoạt động của tôn giáo tăng lên, đòi hỏi phải có những cơ sở tôn giáo đủ điều kiện để tín đồ gửi gắm niềm tin. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu sử dụng đất của cơ sở tôn giáo. Nhiều cơ sở tôn giáo hiện tại quy mô không phù hợp do số lượng các tín đồ, phật tử tăng lên nhiều. Một bộ phận dân cư tại một số điểm đân cư mới hình thành có nhu cầu tôn giáo, đòi hỏi  phải có các công trình tôn giáo. Nhiều cơ sở tôn giáo bị phá huỷ trong chiến tranh hoặc do thiên tai, nay các tôn giáo muốn xây dựng lại để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Đây là nhu cầu chính đáng đã và đang cần tiếp tục được quan tâm giải quyết trên cơ sở chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước.

Trên cơ sở quy định tại điều 51, điều 99 luật đất đai 2003 , cần mở rộng đối tượng được giao đất là cơ sở tôn giáo , không bó hẹp đối tượng được giao chỉ là nhà chùa, nhà thờ, thánh thất, như giao đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây ăn quả, đất trồng rừng, đồng thời giao quyền sử dụng đất để các chức sắc,nhà tu hành tôn giáo lao động sản xuất. Các chức sắc, nhà tu hành được nhà nước giao đất nông nghiệp có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Tác giả bài viết:  Bạch Thái Toàn - Phó Chánh Văn phòng Sở

Nguồn tin:  Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin