Đề xuất, xử lý diện tích đất sau khi thu hồi của các công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh
a. Đối với diện tích đất các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng và đã được cấp giấy nhận quyền sử dụng đất thì tiếp tục được sử dụng theo giấy chứng nhận đã được cấp.
b. Đối với diện tích đất các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận:
+ Đối với diện tích đất các hộ gia đình, cá nhân được giao theo Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1995, Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ thì tiếp tục được sử dụng và cấp giấy chứng nhận theo quy định.
+ Đối với diện tích đất ở, đất vườn ao (trong cùng thửa đất ở): Nếu không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được cấp giấy chứng nhận theo quy định.
+ Đối với diện tích đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác), đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản (không phải là đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở): Xét giao đất cho các hộ đang sử dụng theo bình quân định mức giao đất đã giao cho các hộ gia đình cá nhân theo Nghị định 64/CP tại địa phương (theo từng xã).
Phần diện tích vượt mức bình quân, giao cho UBND huyện thu hồi để xét giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, nhân viên không còn làm việc ở nông trường lâm trường do thực hiện việc sắp xếp, đổi mới nông trường, lâm trường và đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nông dân đang sinh sống tại địa phương hiện không có hoặc thiếu đất sản xuất theo bình quân diện tích đất đã giao cho các hộ dân tại địa phương. Diện tích còn lại (nếu có) bổ sung vào quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã nơi có đất.
c. Đối với diện tích đất có rừng trồng sản xuất hoặc đất có thể trồng rừng sản xuất được xử lý như sau:
+ Diện tích đất do các hộ gia đình, cá nhân lấn chiếm của các Công ty nông, lâm nghiệp trước ngày 01/7/2004: xét giao đất cho các hộ đang sử dụng theo bình quân mức đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ gia đình cá nhân tại địa phương (xã nơi có đất). Diện tích vượt mức bình quân thì UBND cấp huyện nơi có đất thu hồi để xem xét giao cho các hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, nhân viên không còn làm việc ở nông trường lâm trường do thực hiện việc sắp xếp, đổi mới nông trường, lâm trường và đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nông dân đang sinh sống tại địa phương hiện không có hoặc thiếu đất sản xuất theo mức bình quân diện tích đất đã giao cho các hộ dân tại địa phương. Diện tích còn lại (nếu có) giao cho UBND cấp xã quản lý trước khi quyết định phương án sử dụng.
+ Đối với diện tích đất trồng rừng sản xuất thuộc dự án 661 và dự án 327: Tiếp tục giao cho các hộ đang sử dụng đất theo bình quân diện tích đất đã giao cho các hộ dân tại địa phương. Diện tích còn lại (nếu có) giao cho UBND cấp xã quản lý trước khi quyết định phương án sử dụng.
+ Đối với phần diện tích đất lấn chiếm của các công ty nông, lâm nghiệp sau ngày 1/7/2004 thì UBND cấp huyện thu hồi giao cho UBND cấp xã quản lý trước khi quyết định phương án sử dụng.
+ UBND cấp huyện tổng hợp diện tích giao cho UBND cấp xã quản lý nêu trên và diện tích đất thu hồi của các công ty nông lâm nghiệp do không có nhu cầu sử dụng (không phải đất tranh chấp, lấn chiếm) gửi Sở Tài nguyên và Môi trường để đề xuất UBND tỉnh phương án sử dụng theo quy định.
d. Giao cho UBND xã quản lý đối với diện tích đất xây dựng các công trình công cộng (đất công trình văn hóa, giáo dục, giao thông, thủy lợi...); diện tích đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (nơi không có ban quản lý rừng đặc dụng); diện tích đất núi đá không có rừng cây, diện tích có độ dốc cao, diện tích đất không canh tác được.
đ. Đối với điện tích đất quốc phòng giao cho các đơn vị quốc phòng quản lý, sử dụng.
e. Đối với diện tích đất rừng đặc dụng giao cho Vườn quốc gia Xuân Sơn (nếu thuộc vùng quy hoạch vườn quốc gia Xuân Sơn) hoặc giao cho UBND cấp xã quản lý (nếu chưa có ban quản lý rừng đặc dụng) quản lý theo quy định.
Sau khi có Văn bản chỉ đạo thực hiện của UBND tỉnh , Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp cùng các cơ quan có liên quan chỉ đạo, hướng dẫn UBND các huyện, các đơn vị có liên quan thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của ủy ban nhân dân tỉnh.
b. Đối với diện tích đất các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận:
+ Đối với diện tích đất các hộ gia đình, cá nhân được giao theo Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1995, Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ thì tiếp tục được sử dụng và cấp giấy chứng nhận theo quy định.
+ Đối với diện tích đất ở, đất vườn ao (trong cùng thửa đất ở): Nếu không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được cấp giấy chứng nhận theo quy định.
+ Đối với diện tích đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác), đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản (không phải là đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở): Xét giao đất cho các hộ đang sử dụng theo bình quân định mức giao đất đã giao cho các hộ gia đình cá nhân theo Nghị định 64/CP tại địa phương (theo từng xã).
Phần diện tích vượt mức bình quân, giao cho UBND huyện thu hồi để xét giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, nhân viên không còn làm việc ở nông trường lâm trường do thực hiện việc sắp xếp, đổi mới nông trường, lâm trường và đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nông dân đang sinh sống tại địa phương hiện không có hoặc thiếu đất sản xuất theo bình quân diện tích đất đã giao cho các hộ dân tại địa phương. Diện tích còn lại (nếu có) bổ sung vào quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã nơi có đất.
c. Đối với diện tích đất có rừng trồng sản xuất hoặc đất có thể trồng rừng sản xuất được xử lý như sau:
+ Diện tích đất do các hộ gia đình, cá nhân lấn chiếm của các Công ty nông, lâm nghiệp trước ngày 01/7/2004: xét giao đất cho các hộ đang sử dụng theo bình quân mức đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ gia đình cá nhân tại địa phương (xã nơi có đất). Diện tích vượt mức bình quân thì UBND cấp huyện nơi có đất thu hồi để xem xét giao cho các hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, nhân viên không còn làm việc ở nông trường lâm trường do thực hiện việc sắp xếp, đổi mới nông trường, lâm trường và đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nông dân đang sinh sống tại địa phương hiện không có hoặc thiếu đất sản xuất theo mức bình quân diện tích đất đã giao cho các hộ dân tại địa phương. Diện tích còn lại (nếu có) giao cho UBND cấp xã quản lý trước khi quyết định phương án sử dụng.
+ Đối với diện tích đất trồng rừng sản xuất thuộc dự án 661 và dự án 327: Tiếp tục giao cho các hộ đang sử dụng đất theo bình quân diện tích đất đã giao cho các hộ dân tại địa phương. Diện tích còn lại (nếu có) giao cho UBND cấp xã quản lý trước khi quyết định phương án sử dụng.
+ Đối với phần diện tích đất lấn chiếm của các công ty nông, lâm nghiệp sau ngày 1/7/2004 thì UBND cấp huyện thu hồi giao cho UBND cấp xã quản lý trước khi quyết định phương án sử dụng.
+ UBND cấp huyện tổng hợp diện tích giao cho UBND cấp xã quản lý nêu trên và diện tích đất thu hồi của các công ty nông lâm nghiệp do không có nhu cầu sử dụng (không phải đất tranh chấp, lấn chiếm) gửi Sở Tài nguyên và Môi trường để đề xuất UBND tỉnh phương án sử dụng theo quy định.
d. Giao cho UBND xã quản lý đối với diện tích đất xây dựng các công trình công cộng (đất công trình văn hóa, giáo dục, giao thông, thủy lợi...); diện tích đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (nơi không có ban quản lý rừng đặc dụng); diện tích đất núi đá không có rừng cây, diện tích có độ dốc cao, diện tích đất không canh tác được.
đ. Đối với điện tích đất quốc phòng giao cho các đơn vị quốc phòng quản lý, sử dụng.
e. Đối với diện tích đất rừng đặc dụng giao cho Vườn quốc gia Xuân Sơn (nếu thuộc vùng quy hoạch vườn quốc gia Xuân Sơn) hoặc giao cho UBND cấp xã quản lý (nếu chưa có ban quản lý rừng đặc dụng) quản lý theo quy định.
Sau khi có Văn bản chỉ đạo thực hiện của UBND tỉnh , Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp cùng các cơ quan có liên quan chỉ đạo, hướng dẫn UBND các huyện, các đơn vị có liên quan thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của ủy ban nhân dân tỉnh.
Tác giả bài viết: Cao Trung Kiên - Chi cục Quản lý Đất đai
Nguồn tin: Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin