Trong những năm qua, ngành chăn nuôi có sự chuyển
biến khá nhanh về quy mô và chất lượng, nhiều địa phương chăn nuôi chiếm vị
trí quan trọng trong giá trị của ngành nông nghiệp; Phát triển chăn nuôi đem
lại hiệu quả khá cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn,
xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, thời gian qua, việc sử dụng kháng sinh ở
một số trang trại chăn nuôi chưa hợp lý, việc lựa chọn kháng sinh, liều sử
dụng, liệu trình điều trị chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người chăn nuôi, chưa
chú ý tới thời gian cách ly thuốc trước khi khai thác các sản phẩm thịt, trứng,
sữa,...dẫn tới dư lượng kháng sinh vượt mức giới hạn cho phép, không chỉ làm ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng thực phẩm mà còn gây hại đến sức khỏe của con người, ảnh hưởng đến việc xuất khẩu các sản phẩm này, đồng thời tạo điều kiện hình thành nhiều
chủng vi khuẩn kháng thuốc; Đặc biệt, việc xử lý tồn dư kháng sinh còn gây
thiệt hại lớn về kinh tế. Hiện tượng “kháng kháng sinh” của vi khuẩn đã gây
nhiều khó khăn và giảm hiệu quả trong công tác điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Chính
vì vậy, người chăn nuôi cần có những hiểu biết nhất định khi sử dụng thuốc
kháng sinh để nâng cao năng suất chăn nuôi, phòng và điều trị bệnh đạt hiệu quả
cao. Cụ thể, khi dùng kháng sinh, các hộ
chăn nuôi cần phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn: Vì kháng sinh chỉ có tác dụng đối với vi khuẩn, không có tác dụng đối
với vi rút. Một số trường hợp bệnh do vi rút dùng kháng sinh chỉ với mục đích
chống nhiễm khuẩn kế phát. Tuy nhiên, cũng không nên lạm dụng kháng sinh trong
điều trị các bệnh nhiễm khuẩn hoặc với mục đích phòng bệnh.
Hiện nay, có rất nhiều
cơ sở chăn nuôi trộn kháng sinh vào thức ăn với mục đích phòng bệnh, giúp vật
nuôi tăng trưởng và tăng khả năng hấp thụ thức ăn, việc làm này không đúng với
nguyên tắc sử dụng kháng sinh bởi vì: Không có kháng sinh trộn vào thức ăn thì
vật nuôi vẫn có thể sinh trưởng bình thường, thức ăn trộn kháng sinh chỉ tăng
thêm chút lợi thế về tăng trưởng trong khi tác hại gây ra cho sức khỏe cộng
đồng là rất lớn. Ngược lại, khi con vật sử dụng thức ăn có trộn kháng sinh sẽ
không chỉ diệt vi khuẩn gây bệnh mà còn diệt cả vi khuẩn có ích, gây mất cân
bằng hệ vi sinh vật ở đường ruột, qua đó tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn
gây tiêu chảy phát triển.
Thứ hai, phải xác định đúng bệnh, vị trí
nhiễm trùng để lựa chọn kháng sinh đúng:
Thường dựa trên triệu
chứng điển hình để chẩn đoán bệnh rồi suy ra vi khuẩn gây bệnh từ đó lựa chọn
kháng sinh thích hợp hoặc phân lập vi khuẩn để định danh sẽ chính xác hơn. Sau
khi đã xác định loại vi khuẩn gây bệnh thuộc nhóm nào thì chọn loại kháng sinh
có phổ thích hợp với nhóm đó để điều trị. Cần chọn kháng sinh thích hợp để tránh hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc; Ví
dụ: Tụ cầu khuẩn kháng các thuốc Penicillin G, Ampicillin, Colistin; Liên cầu
tán huyết kháng thuốc Penicillin, Gentamycin; Các liên cầu nhóm A và D, xoắn
khuẩn kháng Kanamycin và Gentamycin.
Hầu hết các kháng sinh có tác dụng kìm hãm hoặc tiêu diệt các vi khuẩn,
chỉ có một số rất ít có tác dụng điều trị các bệnh do nấm, ký sinh trùng và
siêu vi trùng. Nếu không thật cấp bách, khi chưa xác định đúng bệnh thì chưa
nên dùng kháng sinh. Phải chọn kháng sinh đúng với bệnh vì mỗi loại kháng sinh
có tác dụng đặc hiệu với một loại vi khuẩn nhất định. Ví dụ: Ampicillin có tác
dụng tốt với bệnh đóng dấu lợn, nhiệt thán gia súc, phó thương hàn, bệnh đường
hô hấp và sinh dục; Erythromycin có tác dụng tốt với viêm nhiễm đường hô hấp
(viêm phổi, viêm phế quản - phổi, viêm màng phổi), bệnh đường sinh dục, đường
tiết niệu (viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm niệu đạo, ...).
Phải chọn kháng sinh theo vị trí nhiễm trùng, kháng sinh được chọn phải
đến được vị trí nhiễm trùng mới có tác dụng; Nên lưu ý đến sự hấp thu, phân bố
của kháng sinh để lựa chọn. Những kháng sinh cho ăn, uống nếu không hấp thu qua
ruột thì điều trị được bệnh đường ruột xong do không vào được cơ thể qua đường
ăn, uống nên không có tác dụng đối với vị trí nhiễm trùng hô hấp, sinh
dục...Nếu chọn những kháng sinh để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp, sinh
dục... thì phải chọn thuốc dạng tiêm.
Thứ ba, phải dùng kháng sinh sớm, đúng chỉ định
(dùng đủ liều, đúng liệu trình, đường đưa thuốc thích hợp và thời điểm thích hợp trong ngày):
Người chăn nuôi cần sử dụng kháng sinh theo
đúng chỉ định của bác sỹ thú y và nhà sản xuất (liều lượng, liệu trình, đường
đưa thuốc), dùng ngay sau khi phát hiện bệnh càng sớm càng tốt, khi mà sức đề
kháng, phòng vệ của cơ thể còn mạnh và mầm bệnh chưa sinh sôi, phát triển nhiều.
Ngay từ đầu dùng kháng sinh với liều cao, sau đó mới giảm liều dần khi bệnh đã
đỡ, không dùng liều nhỏ tăng dần để tránh hiện tượng vi khuẩn nhờn thuốc; Đồng
thời, phải dùng thuốc đủ liều cho cả đợt; Ví dụ: Sulfamid, Tetracyclin dùng
liên tục từ 6-8 ngày, Chlotetracyclin dùng liên tục từ 4-6 ngày.
Dùng kháng sinh liên tục cho đến khi hết
các biểu hiện nhiễm khuẩn (sốt, sưng khớp, sưng hạch, ho,...) Sau đó dùng tiếp
tục thêm 2-3 ngày rồi mới ngừng thuốc với liều thấp hơn một chút. Nếu sau 5-6
ngày điều trị không có hiệu quả thì nên thay kháng sinh, hoặc phối hợp với
kháng sinh khác.
Đặc biệt, căn cứ vào đặc điểm của thuốc (sự
phân hủy trong dịch vị, sự hấp thu, sự đào thải,…) mà lựa chọn thời điểm dùng
thuốc thích hợp trong ngày. Ví dụ: Các thuốc cho vật nuôi uống khi đói:
Colistin, Polymycin; Các thuốc có thể trộn cùng thức ăn: Tiamulin, Tylosin, ...
Thứ
tư, cần phối hợp kháng sinh thích hợp
với từng loại vi khuẩn:
Mục đích của việc phối hợp kháng
sinh nhằm mở rộng phổ kháng khuẩn, tăng hiệu quả diệt khuẩn và ngăn ngừa
kháng thuốc. Nguyên tắc phối hợp
là phối hợp để có hiệp đồng tác động, lưu ý sự phân bố kháng sinh và tránh
phối hợp gây tương tác có hại. Nếu không phối hợp thuốc kháng sinh tốt sẽ gây
những bất lợi như: Thất bại do đối kháng tác động, tăng nguy cơ tác dụng phụ,
tương tác thuốc và tăng giá thành trị liệu; Vì vậy, khi phối hợp kháng sinh cần
tuân theo chỉ dẫn của bác sỹ thú y.
* Một số phối hợp thuốc có tác dụng hiệp
lực:
• Nhóm ß-lactam (Penicillin, Oxacillin,
Cloxacillin, Floxacillin, Ampicillin, Amoxillin, Ambiotic, Cephalosporin, Cephalexin, Ceftiofur, ....)
+ Nhóm Aminoglycoside (Streptomycin,
Kanamycin, Neomycin, Spectinomycin, Gentamycin, ...).
• Nhóm Glycopeptid (Vancomycin) + Nhóm Aminoglycoside.
• Nhóm Sulfamide (Sulfaguanidin, Sulfacetamid,
Sulfamethoxazol, ...) + Trimethoprim.
• Nhóm ß-lactam + Fluoroquinolon (Ciprofloxacin, Norfloxacin,...)
• Rifampicin + Vancomycin.
* Một số phối hợp thuốc có tác dụng đối
kháng cần tránh:
• Nhóm Aminoglycoside + Nhóm Phenicol
(chỉ sử dụng 02 loại: Thiamphenicol và
Florphenicol, không sử dụng Chloramphenicol vì đã bị cấm sử dụng).
• Nhóm Aminoglycoside + Nhóm Tetracyclin (Tetracyclin,
Chlotetracyclin, Oxytetracyclin,
Doxycyclin)
• Nhóm Quinolon (Acid nalidixic, Acid oxolinic, Flumequin,
Norfloxacin, Enrofloxacin, Pefloxacin, Rosoxacin, Ciprofloxacin) +
Nhóm Phenicol (chỉ sử dụng 02 loại: Thiamphenicol và Florphenicol, không sử dụng
Chloramphenicol vì đã bị cấm sử dụng).
• Penicillin G / Ampicillin + Nhóm
Tetracyclin (Tetracyclin, Chlotetracyclin, Oxytetracyclin).
•
Penicillin G /
Ampicillin + Nhóm Macrolide (Erythromycin, Tylosin, Tiamulin, Rifamycin,
Lincomycin, Virginiamycin, Oleandomycin).
Thứ
năm, đảm bảo thời gian ngừng sử dụng thuốc trước khi khai thác các sản phẩm thịt, trứng, sữa:
Khi sử dụng kháng sinh để điều trị, người chăn nuôi cần chú ý thời gian ngừng
sử dụng thuốc trước khi khai thác các sản phẩm như thịt, trứng, sữa theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất nhằm tránh xảy ra tình trạng tồn dư kháng sinh trong thực phẩm, gây ảnh
hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. (Thời gian ngừng
thuốc trước khi sử dụng làm thực phẩm dài, ngắn khác nhau tùy thuộc từng loại
kháng sinh, do thời gian tồn lưu thuốc trong cơ thể của mỗi loại kháng sinh
khác nhau). Ví dụ: Tiamulin thời gian ngừng
sử dụng thuốc trước khi giết mổ, đối với lợn là 7 ngày, đối với gia cầm là 5
ngày; Ampicillin ngưng sử dụng trước khi giết mổ 5 ngày đối với cả gia súc, gia
cầm.
Thứ
sáu, cần tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng: Cho con vật ăn thức ăn có chất lượng cao, bổ sung các loại
vitamin, đặc biệt là các vitamin nhóm B để tăng cường sức đề kháng của
vật nuôi vào những ngày dùng kháng sinh góp phần nâng cao hiệu quả điều trị
bệnh.
Thứ
bảy, không dùng kháng sinh trong những
trường hợp sau: Penicillin: Không dùng đối với gia súc có tiền sử
choáng, dị ứng.
Penicillin chậm, Tetracyclin,
Streptomycin, Gentamycin, Kanamycin, Sulfamid: Không dùng cho gia súc sơ sinh.
Sulfamid, Tetracyclin, Rifampicin, Bactrim:
Không dùng cho gia súc có thai và đang nuôi con bằng sữa mẹ, khi thật sự cần
thiết mới dùng nhưng phải theo dõi cẩn thận.
Tuyệt
đối không được dùng các loại hóa chất, kháng sinh có trong Danh mục hóa chất,
kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn
nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam; Thuốc, hóa chất, kháng sinh có trong Danh
mục thuốc, hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng trong thú y, trong
sản xuất, kinh doanh thủy sản theo Quy định tại Thông
tư số 28/2014/TT-BNNPTNT ngày 04/9/2014, Thông tư số 42 /2015/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2015, Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BNNPTNT ngày 25/02/2014 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn./.
BSTY. Đào Ngọc Lan – Chi cục Thú y Phú Thọ
DANH MỤC
HÓA CHẤT, KHÁNG SINH CẤM NHẬP KHẨU, SẢN XUẤT, KINH DOANH VÀ SỬ DỤNG
TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI GIA SÚC, GIA CẦM TẠI VIỆT NAM
(Quy định tại Thông tư số 28/2014/TT-BNNPTNT ngày 04/9/2014 và Thông tư số 42 /2015/TT-BNNPTNT
ngày 16/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
TT |
Tên kháng sinh, hóa chất |
1 |
Carbuterol |
2 |
Cimaterol |
3 |
Clenbuterol |
4 |
Chloramphenicol |
5 |
Diethylstilbestrol (DES) |
6 |
Dimetridazole |
7 |
Fenoterol |
8 |
Furazolidon và các dẫn xuất |
9 |
Isoxuprin |
10 |
Methyl-testosterone |
11 |
Metronidazole |
12 |
19 Nor-testosterone |
13 |
Ractopamine |
14 |
Salbutamol |
15 |
Terbutaline |
16 |
Stilbenes |
17 |
Trenbolone |
18 |
Zeranol |
19 |
Melamine (Với |
20 |
Bacitracin Zn |
21 |
Carbadox |
22 |
Olaquidox |
23 |
Vat Yellow 1 (tên gọi khác: flavanthrone, flavanthrene, sandothrene); công thức phân tử: C28H12N2O2; |
24 |
Vat Yellow 2 |
25 |
Vat Yellow 3 |
26 |
Vat Yellow 4 (tên gọi khác: Dibenzochrysenedione, Dibenzpyrenequinone); công |
27 |
Auramine (tên gọi khác: yellow pyoctanine; |
DANH MỤC
HOÁ CHẤT, KHÁNG SINH CẤM SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT,
KINH DOANH THỦY SẢN
(Quy định tại Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BNNPTNT ngày 25/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn)
|
TT |
Tên hoá chất, kháng sinh |
Đối tượng áp dụng |
1 |
Aristolochia spp và các chế |
Thức ăn, thuốc thú y, hoá |
2 |
Chloramphenicol |
|
3 |
Chloroform |
|
4 |
Chlorpromazine |
|
5 |
Colchicine |
|
6 |
Dapsone |
|
7 |
Dimetridazole |
|
8 |
Metronidazole |
|
9 |
Nitrofuran (bao gồm cả |
|
10 |
Ronidazole |
|
11 |
Green Malachite (Xanh |
|
12 |
Ipronidazole |
|
13 |
Các Nitroimidazole khác |
|
14 |
Clenbuterol |
|
15 |
Diethylstilbestrol (DES) |
|
16 |
Glycopeptides |
|
17 |
Trichlorfon (Dipterex) |
|
18 |
Gentian Violet (Crystal |
|
19 |
Nhóm |
|
Trifluralin |
||
|
Cypermethrim |
|
|
|
Deltamethrin |
||
Enrofloxacin |
DANH MỤC
THUỐC, HOÁ CHẤT,
KHÁNG SINH CẤM SỬ DỤNG TRONG THÚ Y
(Quy định tại Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BNNPTNT ngày 25/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn)
TT |
Tên hoá chất, kháng sinh |
1 |
Chloramphenicol |
2 |
Furazolidon |
3 |
Dimetridazole |
4 |
Metronidazole |
5 |
Dipterex |
6 |
Eprofloxacin |
7 |
Ciprofloxacin |
8 |
Ofloxacin |
9 |
Carbadox |
10 |
Olaquidox |
11 |
Bacitracin |
12 |
Green Malachite (Xanh |
13 |
Gentian Violet (Crystal |
HOÁ CHẤT,
KHÁNG SINH HẠN CHẾ SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT, KINH DOANH THỦY SẢN
(Quy định tại Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BNNPTNT ngày 25/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn)
TT |
Tên hoá chất, kháng sinh |
Dư lượng tối đa (MRL)(ppb) |
|
1 |
Amoxicillin |
50 |
|
2 |
Ampicillin |
50 |
|
3 |
Benzylpenicillin |
50 |
|
4 |
Cloxacillin |
300 |
|
5 |
Dicloxacillin |
300 |
|
6 |
Oxacillin |
300 |
|
7 |
Oxolinic Acid |
100 |
|
8 |
Colistin |
150 |
|
9 |
Diflubenzuron |
1000 |
|
10 |
Teflubenzuron |
500 |
|
11 |
Emamectin |
100 |
|
12 |
Erythromycine |
200 |
|
13 |
Tilmicosin |
50 |
|
14 |
Tylosin |
100 |
|
15 |
Florfenicol |
1000 |
|
16 |
Lincomycine |
100 |
|
17 |
Neomycine |
500 |
|
18 |
Paromomycin |
500 |
|
19 |
Spectinomycin |
300 |
|
20 |
Chlortetracycline |
100 |
|
21 |
Oxytetracycline |
100 |
|
22 |
Tetracycline |
100 |
|
23 |
Sulfonamide (các loại) |
100 |
|
24 |
Trimethoprim |
50 |
|
25 |
Ormetoprim |
50 |
|
26 |
Tricainemethanesulfonate |
15-330 |
|
27 |
Danofloxacin |
100 |
|
28 |
Difloxacin |
300 |
|
Ciprofloxacin |
100 |
|
|
30 |
Sarafloxacin |
30 |
|
31 |
Flumequine |
600 |
DANH MỤC
THUỐC,
HOÁ CHẤT, KHÁNG SINH HẠN CHẾ SỬ DỤNG TRONG THÚ Y
(Quy định tại Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BNNPTNT ngày 25/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn)
TT |
Tên thuốc, hoá chất, kháng sinh |
1 |
Improvac (số ĐK: PFU-85 của |
2 |
Spiramycin |
3 |
Avoparcin |
4 |
Virginiamycin |
5 |
Meticlorpidol |
6 |
Meticlorpidol/Methylbenzoquate |
7 |
Amprolium (dạng bột) |
8 |
Amprolium/ethopate |
9 |
Nicarbazin |
10 |
Flavophospholipol |
11 |
Salinomycin |
12 |
Avilamycin |
13 |
Monensin |
|
Tylosin phosphate |