Kết quả thực hiện dự án: “Quan trắc Tài nguyên nước dưới đất khu vực phía Nam huyện Lâm Thao...
iều tra, đánh giá về hiện trạng khai thác và sử dụng nước ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, làng nghề, dịch vụ, các khu vực có dấu hiệu suy giảm về chất lượng và trữ lượng NDĐ. Động thái NDĐ biến động do mức độ khai thác. Là nơi tập trung nhiều công trình khai thác nước dưới đất, đông dân cư, canh tác nông nghiệp cao, sử dụng nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; ảnh hưởng nước thải của sản xuất công nghiệp hóa chất, giấy…
Các vị trí đặt điểm quan trắc là toàn bộ vùng đồng bằng nằm bên bờ tả sông Hồng, cách trung tâm thành phố Việt Trì 6 km về phía Nam tỉnh Phú Thọ với tổng số 10 công trình quan trắc. Tọa độ địa lý của vùng dự án: Từ 21015’ đến 21020’ vĩ độ Bắc; 105015’ đến 105022’ kinh độ Đông. Các công trình có nước được thiết kế là một lỗ khoan, trên miệng lỗ khoan có đổ bệ, gia cố miệng, bệ công trình, ống thép có nắp và khóa bảo vệ theo thiết kế. Biển hiệu công trình bằng đá gắn vào công trình. Diện tích đất sử dụng là 4 m2/1 công trình. Các lỗ khoan quan trắc tài nguyên NDĐ được bố trí tương đối trải đều trên diện tích vùng dự án và đảm bảo yêu cầu ở các vị trí mà xung quanh có nhiều giếng khoan khai thác, đồng thời tập trung vào những khu vực sản xuất công nghiệp, làng nghề, dân cư tập trung là những nơi có nguy cơ ô nhiễm nguồn nước dưới đất cao.
Phương pháp kỹ thuật lấy mẫu dựa trên các TCVN 6663-11:2011 về công tác lấy mẫu nước, TCVN 6663-3:2008 về công tác bảo quản mẫu. Các chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích theo nội dung dự án như: pH, Độ dẫn điện, chất rắn tổng số, Fe, Al, phenol, Mn, Pb, Hg, COD, Tổng N, PO43-..
Đánh giá chung về mực nước và nhiệt độ nước: Quá trình thực hiện từ cuối mùa mưa đến giữa mùa khô nên mực nước trên toàn vùng dao động theo xu hướng chung là hạ thấp dần về cuối năm. Mùa mưa, nguồn NDĐ có sự bổ trợ từ nước mưa nên mực nước dâng lên; về mùa khô lượng mưa rất ít, nguồn NDĐ bị thoát đi nên mực nước hạ xuống. Qua số liệu nguồn NDĐ trong vùng không chịu ảnh hưởng lớn từ hoạt động khai thác nước ngầm, do đó mực nước tại tất cả các điểm quan trắc dao động theo chu kỳ tương đối ổn định. Công trình có mực nước trung bình năm cực đại là LT5 tại địa điểm gần trạm cấp nước xã Sơn Dương với độ cao mực nước đến điểm mốc tọa độ là 6,83 m; thấp nhất là công trình LT8 với độ cao mực nước đến điểm mốc tọa độ là 2,65 m. Nhiệt độ nước tại các công trình trong năm khá ổn định, cao nhất là 26,110C của công trình LT10, thấp nhất là 25,260C của công trình LT8. Biên độ dao động mực nước của các công trình từ 1,03 m đến 3,91 m, lớn nhất là công trình LT8, thấp nhất là công trình LT6. Biên độ dao động nhiệt độ từ 0,040C đến 1,320C ; cao nhất là công trình LT10, thấp nhất là công trình LT6.
Kết quả quan trắc phân tích chất lượng nước của 10 công trình thuộc dự án cho thấy chất lượng nước toàn vùng nghiên cứu không bị ô nhiễm nặng, các thông số phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09: 2008/BTNMT. Tuy nhiên, thông số NH4+ của tất cả các điểm quan trắc đều vượt nhiều lần so với giới hạn cho phép, cao nhất là tại công trình LT9 đặt tại khu vực chợ xã Bản Nguyên với hàm lượng NH4+ là 6,634 mg/l vượt 66,34 lần tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng Mn tại các công trình: LT2, LT5, LT7, LT8, LT9, LT10, LT11 cũng vượt tiêu chuẩn cho phép, cao nhất là tại công trình LT2 đặt ở trụ sở UBND xã Hợp Hải với hàm lượng là 1,596 mg/l vượt 3,192 lần. Đây là dấu hiệu tiền ô nhiễm nguồn NDĐ.
Qua số liệu quan trắc Dự án đã cung cấp số liệu thông tin cơ bản về nguồn tài nguyên NDĐ làm căn cứ khoa học để phục vụ và cảnh báo cho người dân về động thái biến đổi và ô nhiễm chất lượng NDĐ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân khi sử dụng làm nguồn nước cấp phục vụ ăn uống và sinh hoạt. Mặt khác, dựa trên cơ sở thực tiễn để phục vụ cho công tác quản lý khai thác, tổng hợp, thống nhất về số lượng và chất lượng nước; giữa nước mặt và NDĐ, kịp thời đưa ra các cảnh báo về suy giảm, ô nhiễm nguồn NDĐ. Đồng thời, các cấp chính quyền cũng có định hướng, cơ chế, chính sách phù hợp để duy trì khai thác và xây dựng quy hoạch trong việc khai thác, sử dụng tiết kiệm, an toàn và có hiệu quả tài nguyên NDĐ, hài hòa trong việc bảo vệ, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước nói chung và nguồn tài nguyên NDĐ phía Nam huyện Lâm Thao nói riêng.
Tác giả bài viết: Hà Thị Minh Chúc - Phó GĐ Trung tâm QT và BV Môi trường