Nâng cao nhận thức về sản xuất sạch hơn đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp.
Các nước châu á như ấn Độ, Singapore, Thái Lan... thực hiện từ năm 1993 đến nay. ở nước ta bắt đầu biết điến khái niệm này vào năm 1996. Từ năm 1996 đến nay Chính phủ đã tiếp nhận khoảng 20 dự án quốc tế và đề tài cấp nhà nước về SXSH, giảm thiểu chất thải và các lĩnh vực liên quan. Ngày 22/9/1999, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã ký Tuyên ngôn quốc tế về SXSH. Ngày 07 tháng 9 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020”.
Việc áp dụng sản xuất sạch hơn nhằm tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu, giảm tiêu hao và ít gây ô nhiễm môi trường hơn. áp dụng các giải pháp này là phương pháp chủ động tiếp cận theo hướng dự báo, phòng ngừa, hạn chế quá trình phát sinh chất thải từ nguyên liệu đầu vào và các công đoạn trong quá trình vận hành.
Với sản xuất công nghiệp, sản xuất sạch hơn có bản chất là bảo toàn nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng và tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải. Sản xuất sạch hơn có ý nghĩa đối với tất cả các cơ sở công nghiệp lớn hay bé, tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, nước nhiều hay ít. Việc áp dụng sản xuất sạch hơn cho phứp doanh nghiệp có thể giảm nguyên nhiên liệu tiêu thụ từ 10-15%.
Với mục tiêu là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên vật liệu và năng lượng một cách có hiệu quả nhất. Điều này có ý nghĩa là thay vì bị thải bỏ sẽ có thêm một tỷ lệ nguyên liệu nữa được chuyển vào thành phẩm. Để đạt được điều này cần phải phân tích một cách chi tiết (cân bằng vật liệu) và hệ thống trình tự vận hành cũng như thiết bị sản xuất (so sánh với định mức và công nghệ tốt nhất hiện có). Quá trình đánh giá sản xuất sạch hơn được tổng hợp thành 6 bước và 18 nhiệm vụ với các giải pháp cụ thể như:
- Tránh các rò rỉ, rơi vãi trong quá trình vận chuyển và sản xuất, hay còn gọi là kiểm soát nội vi;
- Đảm bảo các điều kiện sản xuất tối ưu từ quan điểm chất lượng sản phẩm, sản lượng, tiêu thụ tài nguyên và lượng chất thải tạo ra;
- Tránh sử dụng các nguyên vật liệu độc hại bằng cách dùng các nguyên liệu thay thế khác;
- Cải tiến thiết bị để cải thiện quá trình sản xuất;
- Lắp đặt thiết bị sản xuất có hiệu quả.
- Thiết kế lại sản phẩm để có thể giảm thiểu lượng tài nguyên tiêu thụ.
Sản xuất sạch hơn không giống như xử lý cuối đường ống, ví dụ như xử lý khí thải, nước thải hay bã thải rắn. Các hệ thống xử lý cuối đường ống làm giảm tải lượng ô nhiễm nhưng không tái sử dụng được phần nguyên vật liệu đã mất đi. Do đó, xử lý cuối đường ống luôn luôn làm tăng chi phí sản xuất. Trong khi đó, sản xuất sạch hơn mang lại các lợi ích kinh tế song song với giảm tải lượng ô nhiễm. Sản xuất sạch hơn đồng nghĩa với giảm thiểu chất thải và phòng ngừa ô nhiễm.
Từ thực trạng môi trường trong công nghiệp cho thấy, tác động tổng hợp các chất thải ra môi trường là rất lớn và ngày càng nghiêm trọng. Các loại chất thải không chỉ ảnh hưởng tới môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mà tác hại lớn hơn là ảnh hưởng tới môi trường và đời sống nhân dân ở các khu vực xung quanh. Do vậy, việc áp dụng SXSH trong công nghiệp là rất cần thiết.
Nếu tính theo từng công đoạn trong quá trình sản xuất thì hiệu quả và lợi ích từ việc áp dụng SXSH trong công nghiệp là rất lớn. Về lợi ích của việc áp dụng SXSH đối với công nghiệp, trước hết tiết kiệm chi phí thông qua giảm lãng phí năng lượng và nguyên liệu; Cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty; Chất lượng và độ đồng đều của sản phẩm tốt hơn; Thu hồi một lượng nguyên liệu bị hao phí trong quá trình sản xuất; Có khả năng cải thiện môi trường làm việc (sức khỏe và an toàn); Cải thiện hình ảnh của công ty; Tuân thủ các quy định môi trường tốt hơn; Tiết kiệm chi phí xử lý cuối đường ống; Có được các cơ hội thị trường mới và tốt hơn.
Một ví dụ cụ thể về áp dụng SXSH đối với ngành giấy và bột giấy lợi ích thu hồi bột giấy và nước sau xeo, trước khi áp dụng SXSH, hệ thống xeo giấy sử dụng nước xong thải bỏ ngay. Nhưng sau SXSH đầu tư một hệ thống bể lắng thu hồi bột và tuần hoàn nước quay về công đoạn xeo, giá thành đầu tư khoảng 370 triệu đồng, thời gian hoàn vốn 3,9 năm. Hiệu quả thu hồi khoảng 152 tấn bột giấy/năm và 37.975m3 nước, kinh tế tiết kiệm 94 triệu đồng/năm, về môi trường giảm thải 152 tấn bột giấy và 37.975m3 nước thải/năm. Một ví dụ khác về cô đặc thu hồi dung dịch crom, trước SXSH nước rửa sau bước mạ crom có nồng độ loãng và bị thải bỏ, sau SXSH công ty này cô đặc dung dịch nước rửa và tuần hoàn trở lại bể mạ, giá thành đầu tư không đáng kể nhưng hiệu quả mang lại rõ rệt, giảm tiêu thụ 64kg crom/năm, tiết kiệm 2.359.000 đồng/năm, giảm thải 64kg crom/năm. Như vậy, việc áp dụng SXSH trong donah nghiệp đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường cho các công ty.
Từ những lợi ích thiết thực do việc áp dụng SXSH mang lại, thiết nghĩ cần có biện pháp tăng cường việc áp dụng sản xuất sạch hơn, tăng lợi nhuận, giảm thiểu chất thải và bảo vệ môi trường. Để làm được điều này, cần có nhiều hơn nữa các biện pháp tuyên truyền về SXSH trong công nghiệp cho các cấp, ngành, địa phương, đặc biệt là các chủ cơ sở sản xuất công nghiệp để SXSH không còn bị giới hạn trong các chương trình, dự án và mô hình trình diễn.
Việc áp dụng sản xuất sạch hơn nhằm tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu, giảm tiêu hao và ít gây ô nhiễm môi trường hơn. áp dụng các giải pháp này là phương pháp chủ động tiếp cận theo hướng dự báo, phòng ngừa, hạn chế quá trình phát sinh chất thải từ nguyên liệu đầu vào và các công đoạn trong quá trình vận hành.
Với sản xuất công nghiệp, sản xuất sạch hơn có bản chất là bảo toàn nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng và tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải. Sản xuất sạch hơn có ý nghĩa đối với tất cả các cơ sở công nghiệp lớn hay bé, tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, nước nhiều hay ít. Việc áp dụng sản xuất sạch hơn cho phứp doanh nghiệp có thể giảm nguyên nhiên liệu tiêu thụ từ 10-15%.
Với mục tiêu là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên vật liệu và năng lượng một cách có hiệu quả nhất. Điều này có ý nghĩa là thay vì bị thải bỏ sẽ có thêm một tỷ lệ nguyên liệu nữa được chuyển vào thành phẩm. Để đạt được điều này cần phải phân tích một cách chi tiết (cân bằng vật liệu) và hệ thống trình tự vận hành cũng như thiết bị sản xuất (so sánh với định mức và công nghệ tốt nhất hiện có). Quá trình đánh giá sản xuất sạch hơn được tổng hợp thành 6 bước và 18 nhiệm vụ với các giải pháp cụ thể như:
- Tránh các rò rỉ, rơi vãi trong quá trình vận chuyển và sản xuất, hay còn gọi là kiểm soát nội vi;
- Đảm bảo các điều kiện sản xuất tối ưu từ quan điểm chất lượng sản phẩm, sản lượng, tiêu thụ tài nguyên và lượng chất thải tạo ra;
- Tránh sử dụng các nguyên vật liệu độc hại bằng cách dùng các nguyên liệu thay thế khác;
- Cải tiến thiết bị để cải thiện quá trình sản xuất;
- Lắp đặt thiết bị sản xuất có hiệu quả.
- Thiết kế lại sản phẩm để có thể giảm thiểu lượng tài nguyên tiêu thụ.
Sản xuất sạch hơn không giống như xử lý cuối đường ống, ví dụ như xử lý khí thải, nước thải hay bã thải rắn. Các hệ thống xử lý cuối đường ống làm giảm tải lượng ô nhiễm nhưng không tái sử dụng được phần nguyên vật liệu đã mất đi. Do đó, xử lý cuối đường ống luôn luôn làm tăng chi phí sản xuất. Trong khi đó, sản xuất sạch hơn mang lại các lợi ích kinh tế song song với giảm tải lượng ô nhiễm. Sản xuất sạch hơn đồng nghĩa với giảm thiểu chất thải và phòng ngừa ô nhiễm.
Từ thực trạng môi trường trong công nghiệp cho thấy, tác động tổng hợp các chất thải ra môi trường là rất lớn và ngày càng nghiêm trọng. Các loại chất thải không chỉ ảnh hưởng tới môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mà tác hại lớn hơn là ảnh hưởng tới môi trường và đời sống nhân dân ở các khu vực xung quanh. Do vậy, việc áp dụng SXSH trong công nghiệp là rất cần thiết.
Nếu tính theo từng công đoạn trong quá trình sản xuất thì hiệu quả và lợi ích từ việc áp dụng SXSH trong công nghiệp là rất lớn. Về lợi ích của việc áp dụng SXSH đối với công nghiệp, trước hết tiết kiệm chi phí thông qua giảm lãng phí năng lượng và nguyên liệu; Cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty; Chất lượng và độ đồng đều của sản phẩm tốt hơn; Thu hồi một lượng nguyên liệu bị hao phí trong quá trình sản xuất; Có khả năng cải thiện môi trường làm việc (sức khỏe và an toàn); Cải thiện hình ảnh của công ty; Tuân thủ các quy định môi trường tốt hơn; Tiết kiệm chi phí xử lý cuối đường ống; Có được các cơ hội thị trường mới và tốt hơn.
Một ví dụ cụ thể về áp dụng SXSH đối với ngành giấy và bột giấy lợi ích thu hồi bột giấy và nước sau xeo, trước khi áp dụng SXSH, hệ thống xeo giấy sử dụng nước xong thải bỏ ngay. Nhưng sau SXSH đầu tư một hệ thống bể lắng thu hồi bột và tuần hoàn nước quay về công đoạn xeo, giá thành đầu tư khoảng 370 triệu đồng, thời gian hoàn vốn 3,9 năm. Hiệu quả thu hồi khoảng 152 tấn bột giấy/năm và 37.975m3 nước, kinh tế tiết kiệm 94 triệu đồng/năm, về môi trường giảm thải 152 tấn bột giấy và 37.975m3 nước thải/năm. Một ví dụ khác về cô đặc thu hồi dung dịch crom, trước SXSH nước rửa sau bước mạ crom có nồng độ loãng và bị thải bỏ, sau SXSH công ty này cô đặc dung dịch nước rửa và tuần hoàn trở lại bể mạ, giá thành đầu tư không đáng kể nhưng hiệu quả mang lại rõ rệt, giảm tiêu thụ 64kg crom/năm, tiết kiệm 2.359.000 đồng/năm, giảm thải 64kg crom/năm. Như vậy, việc áp dụng SXSH trong donah nghiệp đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường cho các công ty.
Từ những lợi ích thiết thực do việc áp dụng SXSH mang lại, thiết nghĩ cần có biện pháp tăng cường việc áp dụng sản xuất sạch hơn, tăng lợi nhuận, giảm thiểu chất thải và bảo vệ môi trường. Để làm được điều này, cần có nhiều hơn nữa các biện pháp tuyên truyền về SXSH trong công nghiệp cho các cấp, ngành, địa phương, đặc biệt là các chủ cơ sở sản xuất công nghiệp để SXSH không còn bị giới hạn trong các chương trình, dự án và mô hình trình diễn.
Tác giả bài viết: Đào Hải - Chi cục quản lý môi trường