Nhảy đến nội dung

Tình hình thực hiện lập đề án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh

Nghe bài viết Play Pause


Từ thực tế đó, quy định về ký quỹ và phục hồi môi trường đã được nhà nước ban hành lần đầu tiên từ năm 1999 với Thông tư liên tịch số 126/1999/TTLT-BTC-BCN-BKHCNM,ngày 22/10/1999, được sửa đổi, thay thế vào năm 2008 với Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg, ngày 29/5/2008, hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 34/2009/TT-BTNMT, ngày 31/12/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Song trong quá trình triển khai, Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg đã bộc lộ một số vướng mắc như: Hầu hết các đề án cải tạo, phục hồi môi trường do UBND cấp huyện thẩm định, phê duyệt có tổng số tiền ký quỹ thấp, thiếu nhiều khoản chi phí, không đủ cải tạo, phục hồi môi trường sau khi dự án kết thúc khai thác; không có quy định về yếu tố trượt giá trong tính tổng kinh phí phải thực hiện dẫn đến phát sinh rủi ro về nguồn tài chính cho công tác cải tạo, phục hồi môi trường sau khi kết thúc khai thác; việc dự toán kinh phí cải tạo, phục hồi môi trường cho mỏ không cập nhật khi lập đề án cải tạo, phục hồi môi trường bổ sung và khấu trừ khoản tiền đã nộp mà chỉ tính cho giai đoạn gia hạn về sau... 
Do đó, ngày 29/3/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản nhằm hoàn chỉnh hơn những quy định về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường và hạn chế những tác động tiêu cực của giai đoạn hậu khai thác khoáng sản. Trong đó, quy định lại thẩm quyền thẩm định đề án cải tạo, phục hồi môi trường đối với các dự án có quy mô, công suất thuộc đối tượng lập bản cam kết bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.

 
Tính đến thời điểm hiện tại, tỉnh Phú Thọ có 141 điểm mỏ, hầu hết các mỏ đều đã có phương án cải tạo, phục hồi môi trường và dự toán được nguồn kinh phí thực hiện; UBND cấp tỉnh đã phê duyệt đề án cải tạo, phục hồi môi trường cho 62 điểm mỏ với tổng số tiền ký quỹ là: 59,468 tỷ đồng; UBND cấp huyện đã phê duyệt dự án cải tạo, phục hồi môi trường cho khoảng 60 điểm mỏ với tổng số tiền ký quỹ xấp xỉ 9,5 tỷ đồng; Ngoài ra, một số đơn vị vẫn đang thực hiện ký quỹ theo Thông tư liên tịch số 126/1999/TTLT-BTC-BCN-BKHCNM,ngày 22/10/1999. Tính đến hết năm 2013, số tiền ký quỹ thu được của các đơn vị là: 10,135 tỷ đồng.

 
Việc nộp tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường của các đơn vị khai thác khoáng sản còn chậm và chưa đầy đủ so với quy định (Lần đầu trong vòng 30 ngày trước khi đi vào khai thác, lần tiếp theo trước ngày 30/01 của năm ký quỹ). Việc đôn đốc, quản lý của cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn do chưa có Thông tư hướng dẫn và Quỹ bảo vệ môi trường đã thành lập nhưng chưa đi vào hoạt động dẫn đến việc theo dõi tình hình nộp tiền của các đơn vị còn chưa được thường xuyên.

 
Từ những tồn tại trên cho thấy, việc tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và hoạt động khoáng sản nói riêng là rất cần thiết. Bên cạnh đó cần nâng cao năng lực, hiệu quả của các cơ quan quản lý Nhà nước và việc giám sát của nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội địa bàn khai thác khoáng sản; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Bộ Tài nguyên và Môi trường cần khẩn trương ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để có nội dung và cấu trúc của đề án cải tạo, phục hồi môi trường của các dự án khai thác và chế biến khoáng sản một cách thấu đáo, toàn diện để đảm bảo tính khoa học và thực tế áp dụng của các mỏ sau khai thác, đáp ứng phát triển bền vững sau này.

Tác giả bài viết:  Ngô Thị Mai - Chi cục Bảo vệ Môi trường