Nhảy đến nội dung

Giới thiệu về công nghệ thành lập “Bản đồ môi trường”

Nghe bài viết Play Pause
Ô nhiễm môi trường đã đang và sẽ là một vấn đề hết sức cấp bách, gây bức xúc trong cộng đồng quốc tế. Tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra ngày càng trầm trọng, đe dọa đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của thế hệ hiện tại và tương lai.

Chính vì vậy, để có những căn cứ khoa học và thực tiễn làm cơ sở  cho việc đánh giá, diễn biến môi trường, xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm, dự báo và cảnh báo các khả năng suy thoái môi trường một cách khách quan, kịp thời, đáp ứng được nhu cầu của công chúng, cũng như tăng cường công tác quản lý, ổn định tư tưởng, chính trị, phục vụ kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường của tỉnh Phú Thọ theo Luật Bảo vệ Môi trường ngày 29/11/2005 và Thông tư số 17/2011/TT-BTN ngày 08/6/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh đã phê duyệt dự án “Thiết kế kỹ thuật và dự toán thành lập bản đồ môi trường tỉnh Phú Thọ”.

Căn cứ văn bản số 1946/UBND-KT4 ngày 24/5/ 2012 của UBND tỉnh Phú Thọ về đồng ý chủ trương giao Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng bản đồ môi trường tỉnh. Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động chỉ đạo đơn vị tư vấn, nghiên cứu ứng dụng phần mềm ARCGIS phục vụ thành lập bản đồ môi trường trên địa bàn tỉnh;

Theo Thông tư 17/2011/TT-BTN ngày 08/6/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường bao gồm 3 phương pháp thành lập bản đồ môi trường: Phương pháp sử dụng bản đồ nền cơ sở địa lý kết hợp với điều vẽ ảnh vệ tinh; phương pháp sử dụng bản đồ nền cơ sở địa ý kết hợp với đo đạc, quan trắc thực địa; phương pháp sử dụng các bản đồ môi trường tỷ lệ lớn hơn. Sau đây xin giới thiệu phương pháp sử dụng bản đồ nền cơ sở địa ý kết hợp với đo đạc, quan trắc thực địa:

1. Biên tập khoa học:

Xác định vùng thành lập bản đồ; xác định chủ đề, mục đích của bản đồ và đặt tên bản đồ; xác định dạng bản đồ sản phẩm; xác định kích thước, tỷ lệ và bố cục đối với bản đồ in trên giấy. Xác định các cấp độ chi tiết đối với bản đồ điện tử; xác định nguồn dữ liệu bản đồ số dùng để làm nền; xác định thiết bị và phương pháp quan trắc.

2. Công tác chuẩn bị:

Thành lập bản đồ nền: Thu thập dữ liệu là bản đồ địa hình dạng số ở tỷ lệ bằng hoặc lớn hơn tỷ lệ bản đồ cần thành lập; nắn chuyển tọa độ (nếu cần); ghép dữ liệu và cắt dữ liệu theo phạm vi thành lập bản đồ; in bản đồ nền trên giấy.

Thu thập, tập hợp số liệu quan trắc; Lập kế hoạch quan trắc (nếu chưa có hoặc số liệu quan trắc chưa đầy đủ); lập hướng dẫn kỹ thuật quan trắc tại hiện trường, phân tích trong phòng thí nghiệm, xử lý số liệu và báo cáo kết quả quan trắc; chuẩn bị các thiết bị, dụng cụ quan trắc.

3. Thu nhận dữ liệu chuyên đề về môi trường tại thực địa:

 Xác định các điểm quan trắc trên bản đồ nền; thực hiện quan trắc theo các quy định hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với từng ngành chuyên đề; thực hiện phân tích các mẫu quan trắc.

4. Công tác tổng hợp, phân tích và làm giàu dữ liệu địa lý:

Thiết kế CSDL và tạo lập CSDL; xử lý đồng nhất chuỗi số liệu; lựa chọn hàm tính toán và tính toán các trị số tương đối và các chỉ tiêu tổng hợp đặc trưng cho từng thông số môi trường; lựa chọn mô hình nội suy và nội suy các giá trị của các thông số môi trường theo miền không gian khảo sát; phân bậc các thông số môi trường.

5. Biên tập bản đồ.

6. Tạo lập metadata cho bản đồ.

7. Kiểm tra, nghiệm thu và giao nộp sản phẩm.

Với quy trình công nghệ trên kết hợp với nền thông tin địa lý tỉnh Phú Thọ, Sở Tài nguyên và Môi trường đang chỉ đạo đơn vị tư vấn xây dựng bộ bản đồ môi trường thành bức tranh toàn cảnh về môi trường hiện tại, góp phần vào việc nâng cao nhận thức cũng như hành động của con người đối với vấn đề cấp thiết nóng bỏng, bức xúc về môi trường, để phục vụ kịp thời cho công tác quản lý môi trường hướng tới xây dựng một Phú Thọ giàu mạnh về kinh tế, công bằng về xã hội và trong sạch về môi trường.

 

Tác giả bài viết:  Nguyễn Xuân Ngạn - Phòng Quản lý Đo đạc và Bản đồ