Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân mới đây chủ trì cuộc họp các Bộ, ngành báo cáo về tình hình ngập nước do biến đổi khí hậu (BĐKH) ở nước ta, đã chỉ đạo các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, TN&MT, Giao thông Vận tải phối hợp để xây dựng tài liệu chung về quy hoạch thủy.
Trong 10 năm qua, số trận bão hàng năm đổ vào ven biển nước ta tăng 0,4 trận. Theo dự báo của Bộ TN&MT, đến năm 2010 nhiệt độ trung bình năm tăng 2,3 độ C so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999. Tính chung cho cả nước, lượng mưa tăng khoảng 5% so với thời kỳ 1980 - 1999. Do chế độ mưa thay đổi cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa dẫn đến nhu cầu tiêu nước gia tăng đột biến, nhiều hệ thống thủy lợi không đáp ứng yêu cầu tiêu, cấp nước.
Theo Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường (Bộ TN&MT), một trong 5 nguy cơ lớn do BĐKH gây ra có sự gia tăng tình trạng thiếu nước. Ngoài ra là giảm năng suất nông nghiệp; thời tiết cực đoan gia tăng; các hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật phát triển. Trên thực tế, biểu hiện của nó đã và đang diễn ra khá rõ nét như mưa lũ bất thường, hạn hán ngày càng khắc nghiệt...
Chúng ta đã có những nỗ lực để giảm thiểu và thích ứng với sự biến đổi khí hậu thông qua các chương trình tăng cường trồng rừng đầu nguồn, rừng ven biển, nâng cấp hệ thống đê bao, xây dựng hồ chứa nước ngọt... Tuy nhiên, nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu vẫn còn hạn chế.
Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng, Việt Nam cần phải có một chiến lược với tầm nhìn dài hạn và cần một quyết tâm lớn nhằm thực hiện một số giải pháp khả thi như xây dựng đê bao kết hợp hệ thống cống và trạm bơm ở các vùng ven biển để tránh ngập lụt; xây dựng hồ chứa nước ngọt ngay tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong các vùng ngập hay bán ngập để trữ nước, tránh tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, phải tìm các biện pháp sản xuất thích nghi cho người nông dân, những người chịu tác động nhiều nhất để họ thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.
Cùng với tác động của BĐKH, nguồn nước sạch sẽ trở nên khan hiếm, có khoảng 8,4 triệu người Việt Nam thiếu nước ngọt vào năm 2050. Cũng theo dự báo, đến năm 2050 mực nước biển có thể dâng thêm 30cm và đến năm 2100 có thể dâng thêm 75cm so với thời kỳ 1980-1999. Như vậy diện tích ngập triều thường xuyên có thể ở mức 20% và khoảng 20 triệu người bị ảnh hưởng đến nơi ở. Cũng do nước biển dâng, chế độ dòng chảy sông suối sẽ thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thủy lợi sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm.
Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế về BĐKH toàn cầu do vậy có thể kêu gọi sự phối hợp của nước ngoài cùng khắc phục hậu quả của BĐKH đối với vấn đề thủy lợi. Trong đó cần có sự hợp tác với các nước trong khu vực sử dụng chung các dòng chảy sông Hồng, sông Mê Kông. Việt Nam cần xác định vùng trọng điểm bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH và kêu gọi các quốc gia thành viên của Công ước quốc tế về BĐKH cùng chung tay khắc phục hậu quả.
Trong 10 năm qua, số trận bão hàng năm đổ vào ven biển nước ta tăng 0,4 trận. Theo dự báo của Bộ TN&MT, đến năm 2010 nhiệt độ trung bình năm tăng 2,3 độ C so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999. Tính chung cho cả nước, lượng mưa tăng khoảng 5% so với thời kỳ 1980 - 1999. Do chế độ mưa thay đổi cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa dẫn đến nhu cầu tiêu nước gia tăng đột biến, nhiều hệ thống thủy lợi không đáp ứng yêu cầu tiêu, cấp nước.
Theo Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường (Bộ TN&MT), một trong 5 nguy cơ lớn do BĐKH gây ra có sự gia tăng tình trạng thiếu nước. Ngoài ra là giảm năng suất nông nghiệp; thời tiết cực đoan gia tăng; các hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật phát triển. Trên thực tế, biểu hiện của nó đã và đang diễn ra khá rõ nét như mưa lũ bất thường, hạn hán ngày càng khắc nghiệt...
Chúng ta đã có những nỗ lực để giảm thiểu và thích ứng với sự biến đổi khí hậu thông qua các chương trình tăng cường trồng rừng đầu nguồn, rừng ven biển, nâng cấp hệ thống đê bao, xây dựng hồ chứa nước ngọt... Tuy nhiên, nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu vẫn còn hạn chế.
Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng, Việt Nam cần phải có một chiến lược với tầm nhìn dài hạn và cần một quyết tâm lớn nhằm thực hiện một số giải pháp khả thi như xây dựng đê bao kết hợp hệ thống cống và trạm bơm ở các vùng ven biển để tránh ngập lụt; xây dựng hồ chứa nước ngọt ngay tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong các vùng ngập hay bán ngập để trữ nước, tránh tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, phải tìm các biện pháp sản xuất thích nghi cho người nông dân, những người chịu tác động nhiều nhất để họ thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.
Cùng với tác động của BĐKH, nguồn nước sạch sẽ trở nên khan hiếm, có khoảng 8,4 triệu người Việt Nam thiếu nước ngọt vào năm 2050. Cũng theo dự báo, đến năm 2050 mực nước biển có thể dâng thêm 30cm và đến năm 2100 có thể dâng thêm 75cm so với thời kỳ 1980-1999. Như vậy diện tích ngập triều thường xuyên có thể ở mức 20% và khoảng 20 triệu người bị ảnh hưởng đến nơi ở. Cũng do nước biển dâng, chế độ dòng chảy sông suối sẽ thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thủy lợi sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm.
Việt Nam đã tham gia Công ước quốc tế về BĐKH toàn cầu do vậy có thể kêu gọi sự phối hợp của nước ngoài cùng khắc phục hậu quả của BĐKH đối với vấn đề thủy lợi. Trong đó cần có sự hợp tác với các nước trong khu vực sử dụng chung các dòng chảy sông Hồng, sông Mê Kông. Việt Nam cần xác định vùng trọng điểm bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH và kêu gọi các quốc gia thành viên của Công ước quốc tế về BĐKH cùng chung tay khắc phục hậu quả.