Tiềm năng to lớn
Các số liệu thăm dò của Bộ TN&MT cho biết, đới ven biển Việt Nam là nơi có trữ lượng nhiều loại khoáng sản quý hiếm với trữ lượng khá lớn như: Mỏ sắt Thạch Khê - Hà Tĩnh (khoảng 540 triệu tấn), sa khoáng inmenit (quặng Titan) trong cồn cát ven biển và tầng cát đỏ từ Ninh Thuận đến Bắc Bà Rịa - Vũng Tàu (khoảng 500 triệu tấn), cát thủy tinh và các loại VLXD, các mỏ than bùn ở những vùng đất trũng, các mỏ dầu khí ngoài khơi…
Để quản lý, quy hoạch và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này, thời gian qua, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã thực hiện hàng loạt dự án điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản, thăm dò, đánh giá trữ lượng… Trong đó phải kể đến việc hoàn thành 3 dự án đièu tra đánh giá sa khoáng titan dải ven biển từ Thanh Hóa đến Bắc Bà Rịa - Vũng Tàu; thực hiện 11 đề án đo vẽ bản đồ địa chất khoáng sản 1:50.000 với nhiều phát hiện bước đầu về địa chất, khoáng sản có giá trị…
Mối đe dọa thường trực
Vai trò và lợi ích quốc gia thu được từ khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản là rất to lớn, tuy nhiên, theo đánh giá của Ủy Ban quốc tế về BĐKH (IPCC) và số liệu công bố bởi Ngân hàng Thế giới, BĐKH đi kèm với mực nước biển dâng sẽ có nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn tài nguyên khoáng sản và môi trường của Việt Nam, đặc biệt với đới ven biển. Các dữ liệu dự báo cho thấy, BĐKH có thể gây tác động đến tài nguyên khoáng sản theo nhiều phương thức khác nhau. Đó là việc cường hóa các tai biến thiên nhiên, điển hình là vùng hạ du, đới ven biển khi mực nước biển dâng cao sẽ gây xói lở, bồi tụ, cát di động… Với vùng miền núi, trung du, BĐKH với các đợt mưa thất thường, cường độ lớn sẽ gây lũ quét, lũ bùn đá, trượt lở…
Các phân tích của chuyên gia cho biết, ở đới ven biển, BĐKH kèm theo mực nước biển dâng cao là yếu tố gây ngập chìm các mỏ khoáng sản ven biển, do vậy, không chỉ trực tiếp gây tổn thất về trữ lượng có khả năng khai thác, mà còn làm suy thoái chất lượng tài nguyên khoáng sản (chẳng hạn làm nhiễm mặn cát thủy tinh…), gây khó khăn hơn cho quá trình nghiên cứu, điều tra, thăm dò và khai thác khoáng sản.
Các nghiên cứu ban đầu cũng chỉ ra rằng, các tai biến khác như xói lở, cát di động, bão lụt, khi bị gia tăng bởi BĐKH cũng góp phần tàn phá cảnh quan các mỏ khoáng sản, gây khó khăn cho công tác điều tra, đánh giá, thăm dò và khai thác khoáng sản. Nguy hại hơn, nó còn làm phát tán các kim loại độc hại từ chất thải mỏ, gây ô nhiễm môi trường.
Với các vùng núi và trung du, sự cường hóa các tai biến lũ quét, lũ bùn đá, trượt lở, lốc xoáy cũng gây lên những tác động tiêu cực đối với các điểm mỏ tài nguyên khoáng sản tại các khu vực này. Mà thực tế thời gian qua đã có không ít điểm mỏ quan trọng đã bị thiên nhiên tàn phá, vùi lấp.
Các số liệu thăm dò của Bộ TN&MT cho biết, đới ven biển Việt Nam là nơi có trữ lượng nhiều loại khoáng sản quý hiếm với trữ lượng khá lớn như: Mỏ sắt Thạch Khê - Hà Tĩnh (khoảng 540 triệu tấn), sa khoáng inmenit (quặng Titan) trong cồn cát ven biển và tầng cát đỏ từ Ninh Thuận đến Bắc Bà Rịa - Vũng Tàu (khoảng 500 triệu tấn), cát thủy tinh và các loại VLXD, các mỏ than bùn ở những vùng đất trũng, các mỏ dầu khí ngoài khơi…
Để quản lý, quy hoạch và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này, thời gian qua, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã thực hiện hàng loạt dự án điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản, thăm dò, đánh giá trữ lượng… Trong đó phải kể đến việc hoàn thành 3 dự án đièu tra đánh giá sa khoáng titan dải ven biển từ Thanh Hóa đến Bắc Bà Rịa - Vũng Tàu; thực hiện 11 đề án đo vẽ bản đồ địa chất khoáng sản 1:50.000 với nhiều phát hiện bước đầu về địa chất, khoáng sản có giá trị…
Mối đe dọa thường trực
Vai trò và lợi ích quốc gia thu được từ khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản là rất to lớn, tuy nhiên, theo đánh giá của Ủy Ban quốc tế về BĐKH (IPCC) và số liệu công bố bởi Ngân hàng Thế giới, BĐKH đi kèm với mực nước biển dâng sẽ có nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn tài nguyên khoáng sản và môi trường của Việt Nam, đặc biệt với đới ven biển. Các dữ liệu dự báo cho thấy, BĐKH có thể gây tác động đến tài nguyên khoáng sản theo nhiều phương thức khác nhau. Đó là việc cường hóa các tai biến thiên nhiên, điển hình là vùng hạ du, đới ven biển khi mực nước biển dâng cao sẽ gây xói lở, bồi tụ, cát di động… Với vùng miền núi, trung du, BĐKH với các đợt mưa thất thường, cường độ lớn sẽ gây lũ quét, lũ bùn đá, trượt lở…
Các phân tích của chuyên gia cho biết, ở đới ven biển, BĐKH kèm theo mực nước biển dâng cao là yếu tố gây ngập chìm các mỏ khoáng sản ven biển, do vậy, không chỉ trực tiếp gây tổn thất về trữ lượng có khả năng khai thác, mà còn làm suy thoái chất lượng tài nguyên khoáng sản (chẳng hạn làm nhiễm mặn cát thủy tinh…), gây khó khăn hơn cho quá trình nghiên cứu, điều tra, thăm dò và khai thác khoáng sản.
Các nghiên cứu ban đầu cũng chỉ ra rằng, các tai biến khác như xói lở, cát di động, bão lụt, khi bị gia tăng bởi BĐKH cũng góp phần tàn phá cảnh quan các mỏ khoáng sản, gây khó khăn cho công tác điều tra, đánh giá, thăm dò và khai thác khoáng sản. Nguy hại hơn, nó còn làm phát tán các kim loại độc hại từ chất thải mỏ, gây ô nhiễm môi trường.
Với các vùng núi và trung du, sự cường hóa các tai biến lũ quét, lũ bùn đá, trượt lở, lốc xoáy cũng gây lên những tác động tiêu cực đối với các điểm mỏ tài nguyên khoáng sản tại các khu vực này. Mà thực tế thời gian qua đã có không ít điểm mỏ quan trọng đã bị thiên nhiên tàn phá, vùi lấp.
Tác giả bài viết: Trung tâm Lưu trữ và Thông tin