Nhảy đến nội dung

Chính sách bồi thường cho nông dân khi bị thu hồi đất - Cần cải cách triệt để và toàn diện

Nghe bài viết Play Pause
    Trước hết là việc đền bù đất đai và tài sản gắn liền với đất. Việc thu hồi đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng, cho công nghiệp hóa (CNH) và đô thị hóa (ĐTH) ở nước ta trong thời gian vừa qua là rất lớn và liên tục. Do đó, số tiền chi từ ngân sách (bao gồm cả việc khấu trừ tiền thu về sử dụng đất) và từ các DN có dự án đầu tư để đền bù cho nông dân về đất đai và tài sản gắn liền với đất cũng là con số không nhỏ. Song, chưa có một tài liệu nào công bố số liệu tổng hợp về vấn đề quan trọng này. Số liệu tổng hợp trong phạm vi các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Hồng cũng chưa được tập hợp và công bố. Tại các tỉnh đã khảo sát, thông tin về đền bù cho nông dân về đất đai và tài sản gắn liền với đất cũng không nhiều, cụ thể như sau: Theo báo cáo của Sở TN&MT Vĩnh Phúc, mức giá bồi thường trung bình là 38 nghìn đ/m2 (13,68 triệu đ/sào); số tiền bồi thường các hộ đã nhận lớn nhất khoảng 160 triệu đồng, ít nhất là vài triệu đồng, trung bình  khoảng 60 - 70 triệu đồng. Báo cáo của Chi cục HTX và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang cho biết: Tổng diện tích đất thu hồi, bồi thường GPMB là 837,58ha để xây dựng KCN, KĐT, đường giao thông, kênh mương và một số dự án, công trình khác. Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là 545,008 tỷ đồng, trong đó: Bồi thường về đất ở 71,625 tỷ đồng; bồi thường về đất nông nghiệp 199,545 tỷ đồng; bồi thường tài sản, cây cối và hoa màu trên đất 73,666 tỷ đồng; các khoản kinh phí hỗ trợ người có đất bị thu hồi 180,407 tỷ đồng; các khoản chi phí khác 19,765 tỷ đồng.


    Theo báo cáo nêu trên, nếu lấy tổng số tiền đền bù chia cho tổng diện tích đất bị thu hồi thì tiền đền bù khoảng 65 nghìn đ/m2. Song, nếu chỉ tính riêng số tiền bồi thường về đất nông nghiệp thì tiền đền bù khoảng 24 nghìn đ/m2. Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Hà Nội, từ năm 2005 đến nay, việc thực hiện công tác bồi thường, GPMB tiếp tục được Đảng bộ và chính quyền các cấp coi trọng và tập trung chỉ đạo. Năm 2005, trên địa bàn TP thu hồi 927ha, thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ cho 28.718 hộ với tổng kinh phí 2.770 tỷ đồng, bố trí tái định cư cho 2.170 hộ. Năm 2006, có 143 dự án hoàn thành với diện tích bàn giao 599ha, thực hiện chi trả bồi thường cho 20.708 hộ với tổng kinh phí 3.800 tỷ đồng, bố trí tái định cư cho 3.259 hộ. Riêng 6 tháng đầu năm 2007, có 60 dự án hoàn thành, thu hồi 250ha đất, chi trả bồi thường, hỗ trợ cho gần 8.000 hộ với tổng kinh phí là khoảng 1.200 tỷ đồng bố trí tái định cư cho 600 hộ dân.


    Chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội trước đây có công thức 35+ 30= 65 nghìn đ/m2, còn tại Hà Tây cũ là 15 nghìn đ/m2.


    Về việc hỗ trợ và bố trí tái định cư cho nông dân: Ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng, trường hợp bị thu hồi 100% diện tích đất, bao gồm cả đất thổ cư, không nhiều. Do đó, việc bố trí tái định cư không trở thành vấn đề quan trọng và phức tạp như ở Hà Nội, TP.HCM. Ngoài khoản đền bù về đất và giá trị tài sản trên đất, các địa phương đều có những chính sách khác nhau nhằm hỗ trợ cho nông dân khi bị thu hồi đất. Chẳng hạn, tỉnh Bắc Ninh quy định đơn giá bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp giao ổn định lâu dài hạng 1 là 70 nghìn đ/m2, trong đó tiền hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp là 14.700 đ/m2, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất là 5.300 đ/m2.


    Tại Vĩnh Phúc, đơn giá hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất với mức trung bình là 13,68 triệu đ/sào đất nông nghiệp, tính bình quân mỗi hộ được bồi thường 60 - 70 triệu đồng. Ngoài mức hỗ trợ này, HĐND tỉnh Vĩnh Phúc có nghị quyết ban hành chính sách về giao đất để làm dịch vụ cho nông dân bị thu hồi đất, mỗi ô đất để làm dịch vụ được quy hoạch theo hai mức là 50m2 và 100m2/ô. Mỗi hộ được giao không quá 100m2 đất dịch vụ.


    Tại Bắc Giang, các chính sách hỗ trợ đã được thực hiện gồm: Hỗ trợ ổn định sản xuất đời sống và chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm (áp dụng đối với đất nông nghiệp giao ổn định lâu dài): TP Bắc Giang là 22 nghìn đ/m2; các huyện là 12 nghìn đ/m2; hỗ trợ hộ gia đình đang hưởng trợ cấp thường xuyên của Nhà nước (bị thu hồi trên 30% diện tích của 1 định suất) là 1 triệu đ/hộ; Hỗ trợ đào tạo nghề (bị thu hồi trên 70% diện tích đất của 1 định suất) là 500 nghìn đ/lao động…


    Với một vài tư liệu nêu trên, có thể rút ra những kết luận sau đây về việc bồi thường, hỗ trợ cho nông dân khi bị thu hồi đất như sau:


    Một là, chính sách bồi thường, hỗ trợ hoàn toàn là chính sách của từng địa phương. Do đó, nó phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, trong đó, đặc biệt quan trọng là khả năng tài chính của ngân sách từng địa phương; sự quan tâm, minh bạch, khách quan của lãnh đạo các địa phương…


    Hai là, mức bồi thường mà người bị thu hồi đất, nhìn chung là rất thấp, không đủ để tái tạo một nơi ở mới; trừ một số nơi thuộc diện giải tỏa để xây dựng các công trình quốc gia, cấp bách hoặc có sự hỗ trợ của các nhà đầu tư


    Ba là, các chính sách hỗ trợ cũng chỉ mang tính chất “an ủi”, “động viên”, ít có hiệu quả trong thực tế.


    Bốn là, với việc thu hồi đất phục vụ các dự án đầu tư kinh doanh, vai trò của các nhà đầu tư rất mờ nhạt. Nguyên nhân của tình trạng đó là do chúng ta đã quá nhấn mạnh việc “thu hút đầu tư” và “trải thảm đỏ” cho các nhà đầu tư một cách tràn lan…


    Tình trạng nêu trên tất yếu sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng đối với đời sống của người bị thu hồi đất, trong đó, chủ yếu là nông dân.