Nhảy đến nội dung

Bệnh nhiệt thán trên đàn gia súc và cách phòng chống

Nghe bài viết Play Pause

Từ năm 2010 đến nay, tại một số tỉnh miền núi phía Bắc (như Lai Châu,
Điện Biên, Cao Bằng, Hà Giang,...) đã xảy ra nhiều ổ dịch nhiệt thán ở gia súc
và lây bệnh cho người. Trong tháng 9/2014, tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang đã
xuất hiện gia súc mắc bệnh Nhiệt thán và lây bệnh sang người do việc giết mổ,
ăn thịt gia súc mắc bệnh, chết. Ở tỉnh Phú Thọ, đã từng xảy ra bệnh Nhiệt thán
ở các xã Hùng Long, Phú Thứ, huyện Đoan Hùng vào năm 1978 và xã Minh Phú, huyện
Đoan Hùng vào năm 1998.

Theo nhận định của Bộ Nông nghiệp và PTNT,
nguy cơ phát sinh, lây lan dịch bệnh Nhiệt thán trên gia súc là rất cao, đặc
biệt bệnh có khả năng lây sang người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng và
sức khỏe của nhân dân.

Bệnh Nhiệt thán hay còn gọi là bệnh Than,
là bệnh truyền nhiễm cấp tính chung cho nhiều loài gia súc (trâu, bò, dê, cừu,
lợn chó, ...) và người. Bệnh
có thể xảy ra quanh năm nhưng thường vào các tháng nóng ẩm, mưa nhiều bởi đây
là thời điểm mà các loại động vật như giun đất, côn trùng hoạt động mạnh là
điều kiện làm cho nha bào nhiệt thán trồi lên mặt đất và lan đi các nơi. Ở các
vùng trung du miền núi như tỉnh ta, bệnh hay xảy ra vào mùa hanh khô (tháng 9,
10, 11, 12), khi nước ở các suối, ao bị cạn là nơi tập trung nhiều nha bào
nhiệt thán. Đồng thời vào mùa khô cỏ hiếm trâu bò thường phải gặm sát đất cho
nên dễ ăn phải nha bào.

* Nguyên nhân: Bệnh do một loại trực khuẩn Gram dương
hiếu khí có tên là Bacillus anthracis gây ra. Đây là một loại vi khuẩn có giáp
mô, có sức đề kháng yếu. Ở nhiệt độ 50 - 58 0C, vi khuẩn chết sau 15
- 40 phút, ở 100 0C trong 10 phút.
Ánh sáng mặt trời diệt vi
khuẩn sau từ 10 - 16 giờ. Các chất sát trùng thông thường đều diệt được vi
khuẩn. Tuy nhiên, sau khi vi khuẩn ra khỏi cơ thể động vật thì có khả năng hình
thành nha bào có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh. Nha bào bị tiêu diệt
ở 100 0C trong 10 - 12 phút; hấp ướt 120 0C trong 20
phút, hấp khô 140 0C trong 3 giờ; trong nước, phân nha bào sống 15 -
17 tháng. Đặc biệt, nha bào có thể sống, tồn tại ở đất sâu không có ánh sáng và
không khí tới 15 năm mà vẫn có khả năng gây bệnh. Nếu dùng các chất sát trùng
thông thường không thể tiêu diệt được nha bào; muốn tiêu diệt được nha bào phải
dùng các chất sát trùng có nồng độ đậm đặc như: formol 1% (tiêu diệt nha bào
sau 2 giờ); axit phenic 5%, (tiêu diệt nha bào sau 24 giờ).

* Đường lây bệnh: Chủ yếu qua đường tiêu hoá do ăn phải thức ăn, nước uống có nhiễm nha
bào. Ngoài ra, có thể lây qua đường hô hấp (do hít phải nha bào), hoặc do ăn
thịt, tiếp xúc với sản phẩm gia súc bị bệnh.

* Cơ chế sinh bệnh: Nha bào sau khi xâm nhập vào cơ thể sẽ “nảy mầm” thành vi khuẩn.Vi khuẩn
nhanh chóng nhân lên và cướp chất dinh dưỡng của vật chủ, sau đó tiết độc tố và
vào hệ tuần hoàn để đến các cơ quan bộ phận khác trong cơ thể. Trong hệ tuần
hoàn, độc tố của vi khuẩn phá hủy thành mạch làm xuất huyết, thấm tương dịch
vào cơ quan tổ chức gây bại huyết. Vi khuẩn sinh sản nhiều, cướp oxy của vật
chủ, làm cho con vật chết do ngạt thở, máu đen. Độc tố của vi khuẩn tác động
đến gan làm mất yếu tố đông máu cho nên máu khó đông.

*Triệu chứng:

- Thể quá cấp tính: Thường gặp ở đầu ổ dịch hoặc những nơi lần đầu có dịch. Bệnh tiến
triển nhanh, con vật đột nhiên sốt cao (41 - 42 0C), đi run rẩy, hai
má sưng, thở gấp, đổ mồ hôi nhiều, các niêm mạc đỏ tím, đầu gục xuống, lưỡi thè
ra, mắt đỏ ngầu. Sau đó con vật mất thăng bằng, lảo đảo, đứng không vững, một
số con điên cuồng, ngã quỵ rồi chết. Sau khi gia súc chết, dạ cỏ lên men sinh
hơi rất nhanh làm cho bụng chướng to; miệng, hậu môn, âm hộ có thể chảy máu.

- Thể cấp tính: Gia súc ủ
rũ, lông dựng, tim đập nhanh, mắt lờ đờ, sốt cao, bỏ ăn, mắt đỏ sẫm, con vật ỉa
ra phân có lẫn máu, đái ra máu, thở khó và nhanh, nhu động ruột, dạ cỏ giảm,
niêm mạc đỏ thẩm, tiêu chảy hoặc kiết, phân đen có lẫn máu, nước tiểu có máu.
Xung huyết và xuất huyết niêm mạc bên ngoài, mồm mũi có bọt hồng lẫn máu, hầu
ngực bị sưng. Ở bò sữa có sự giảm sữa đột ngột. Gia súc mang thai có thể bị sẩy
thai. Hầu, ngực, bụng sưng nóng và đau đớn; con vật chết, máu chảy ra từ các lỗ
tự nhiên (miệng, mũi, hậu môn, cơ quan sinh dục). Tỷ lệ chết khoảng 80%.

* Bệnh tích: Xác chết
trương to, lòi dom; các lỗ tự nhiên chảy máu, máu đen, đặc, khó đông; hạch lâm
ba sưng to, tụ máu; dưới da có nhiều dịch vàng; thịt ướt, nhão, tím tái thẫm
máu; phổi viêm, tụ máu, trong lòng khí quản có nhiều dịch nhớt và bọt màu hồng;
gan, thận sưng, thoái hóa, tụ máu; bóng đái chứa nhiều nước tiểu đỏ; cơ tim
nhão; lách sưng to, tím sẫm, nát nhũn như bùn; các bộ phận khác xuất huyết hoặc
tụ huyết.

* Phòng bệnh:

- Ở những địa phương có
bệnh nhiệt thán, phải thực hiện việc tiêm phòng liên tục trong 10 năm cho gia
súc.


- Người dân khi phát hiện có gia súc nghi mắc
bệnh nhiệt thán, gia súc chết bất thường cần báo ngay cho cơ quan thú y và
chính quyền địa phương để có biện pháp xử lý kịp thời; cách ly triệt để; tuyệt
đối không mổ thịt, vận chuyển gia súc bệnh;vệ sinh, khử trùng, tiêu độc
môi trường, dụng cụ chăn nuôi. Đặc biệt, đối với
xác
động vật
chết vì bệnh
nhiệt thán và chất độn chuồng, chất thải của chúng phải được đốt, chôn và đổ bê
tông các hố chôn
; nơi chôn gia súc
phải xa khu dân cư, nguồn nước, xây kiên cố và có biển báo.
Không chăn thả gia súc đến nơi có mả chôn gia súc chết vì bệnh nhiệt
thán.