Chuyển hóa rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Hướng đi mới của ngành Lâm nghiệp
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của ngành lâm nghiệp liên tục tăng, trong đó kim ngạch xuất khẩu lâm sản năm 2021 đạt khoảng 15,6 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2020.
Trong bối cảnh quỹ đất dành cho phát triển lâm nghiệp không thể mở rộng, cả nước nói chung và tỉnh Phú Thọ nói riêng đang tập trung trồng rừng gỗ lớn. Đây được xác định là hướng đi mới, góp phần giải quyết sinh kế, nâng cao đời sống của người dân, đồng thời giảm rửa trôi đất qua mỗi chu kỳ khai thác, góp phần bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu. Để cây gỗ lớn “bén rễ” trên đất rừng Phú Thọ, tỉnh đã có các dự án sản xuất thử nghiệm, cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc thù cho người dân.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của ngành lâm nghiệp liên tục tăng, trong đó kim ngạch xuất khẩu lâm sản năm 2021 đạt khoảng 15,6 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2020. Gỗ và đồ gỗ là các sản phẩm chính đóng góp vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, để duy trì sự tăng trưởng đó, nhiều thách thức đã và đang đặt ra cần giải quyết. Một trong những thách thức lớn thiếu hụt nguồn nguyên liệu gỗ lớn cho chế biến đồ mộc. Mặc dù diện tích rừng trồng tăng nhanh trong thời gian qua, nhưng chủ yếu là rừng kinh doanh gỗ nhỏ, sản xuất dăm gỗ xuất khẩu. Hiện tại trung bình hàng năm cả nước khai thác hàng chục triệu m3 gỗ rừng trồng cho sản xuất dăm, nhưng phải nhập khoảng 5 triệu m3 gỗ lớn để phục vụ chế biến đồ mộc.
Thực hiện Quyết định số 1150/QĐ-UBND ngày 24/5/2018 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc phê duyệt dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh: “Xây dựng mô hình chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn các loài Keo lai và Keo tai tượng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, Chi cục Kiểm lâm đã triển khai xây dựng mô hình theo Tiêu chuẩn quốc gia: TCVN 11567-1:2016 và TCVN 11567-2:2016, hai bộ tiêu chuẩn trên ngoài công bố các yêu cầu, nguyên tắc, tiêu chuẩn của rừng cây gỗ nhỏ và cây gỗ lớn đã hướng dẫn nguyên tắc và kỹ thuật chuyển hóa từ rừng cây gỗ nhỏ sang rừng cây gỗ lớn đối với 2 loài cây: Keo lai và Keo tai tượng. Đây là cơ sở để triển khai dự án sản xuất thử nghiệm rất cấp thiết góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật chuyển hóa cho phù hợp với điều kiện sản xuất thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, đặc biệt khi Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành Nghị quyết số 22/2021/NQ-HĐND ngày 09/12/2021 Quy định chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong đó có chính sách hỗ trợ chuyển hóa rừng cây gỗ lớn cho 2 loài Keo tai tượng và Keo lai.
Mục tiêu của dự án là áp dụng kỹ thuật chuyển hóa đã được ban hành theo TCVN 11567 để xây dựng thành công mô hình chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn quy mô 30 ha đối với 2 loài Keo lai và Keo tai tượng có tỷ lệ cây gỗ lớn năm thứ 10-12 đạt trên 70%, tăng hiệu quả kinh tế của rừng trồng tối thiểu từ 30%; hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật chuyển hóa rừng keo gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn phù hợp với điều kiện của tỉnh Phú Thọ, đồng thời chuyển giao tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật chuyển hóa cho 240 người thuộc các đơn vị, cá nhân, hộ trồng rừng trên địa bàn tỉnh.
Để thực hiện mục tiêu đó, Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ đã thành lập Ban quản lý dự án xây dựng mô hình chuyển hóa rừng gỗ lớn. Các thành viên Ban quản lý dự án đã tiến hành điều tra, đánh giá, bổ sung thông tin, xác định hiện trạng rừng và lựa chọn đối tượng rừng để triển khai thực hiện chuyển hóa. Đồng thời dự án đã tổ chức 3 hội nghị, 5 lớp tập huấn kỹ thuật chuyển hóa rừng gỗ lớn với gần 400 người tham gia. Dự án đã lựa chọn 4 lô rừng với diện tích 30ha trên địa bàn các huyện Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập. Sau khi thực hiện dự án cho thấy, kết quả thiết kế tỉa thưa tại huyện Tân Sơn, trên diện tích 10ha xác định cây mục đích, cây trung gian và cây bài chặt. Kết quả bài chặt tỉa thưa năm 2018, 2021 xác định có 7.032 cây được bài chặt với D1.3 bình quân của lô rừng lúc bắt đầu đưa vào chuyển hóa là 14,5 cm; chiều cao Hvn bình quân đạt 13,5 m. Tại huyện Thanh Sơn, trên diện tích 10ha thực hiện gỗ lớn xác định cây mục đích, cây trung gian và cây bài chặt. Kết quả bài chặt tỉa thưa năm 2018, 2021 xác định có 7.219 cây được bài chặt với D1.3 bình quân của lô rừng lúc bắt đầu đưa vào chuyển hóa là 14,2 cm; chiều cao Hvn bình quân đạt 14,5 m. Còn tại Yên Lập thực hiện trên diện tích 5ha. Kết quả bài chặt tỉa thưa năm 2018, 2021 xác định có 3.444 cây được bài chặt với D1.3 bình quân của lô rừng lúc bắt đầu đưa vào chuyển hóa là 13,2 cm; chiều cao Hvn bình quân đạt 13,7 m.
Về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tại huyện Tân Sơn, qua kết quả 4 năm xác định lô rừng chuyển hóa từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đạt trữ lượng 2.985,6 m3, sản lượng đạt 2.089,9 m3 (bình quân sản lượng đạt 209 m3/ha với chu kỳ kinh doanh 10 năm); tại huyện Thanh Sơn đạt trữ lượng 2.860,3 m3, sản lượng đạt 2.002,2 m3 (bình quân sản lượng đạt 200,2 m3/ha với chu kỳ kinh doanh 10 năm). Tại huyện Yên Lập đạt trữ lượng 1.142,1 m3, sản lượng đạt 799,5 m3 (bình quân sản lượng đạt 160 m3/ha với chu kỳ kinh doanh 10 năm).
Do vậy, với chu kỳ 10 năm tổng chi phí của mô hình chuyển hóa là trên 500 triệu đồng, doanh thu đạt trên 2 tỉ đồng. Lợi nhuận ròng (NPV) sau khi trừ đi lãi xuất 8,5%/năm đạt trên 1,6 tỉ đồng, IRR 39%- 40% và BCR là 3,85-3,96. Với mô hình chuyển hóa 5ha, tổng chi phí chuyển hóa trên 264 triệu đồng, doanh thu đạt trên 953 triệu đồng. Lợi nhuận ròng (NPV) sau khi trừ đi lãi xuất 8,5%/năm đạt gần 700 triệu đồng, IRR là 36% và BCR là 3,61. Như vậy cho thấy lợi nhuận ròng và IRR khá cao, do đó mô hình chuyển hóa rừng trồng có lãi. Ba mô hình chuyển hóa rừng keo tai tượng đã đáp ứng được mục tiêu của dự án như: Tỷ lệ gỗ lớn của mô hình đạt từ 71,03-81%; năng suất rừng đạt từ 16-21m3/ha/năm, tăng hiệu quả kinh tế của rừng trồng từ 31,3 - 73%.
Từ kết quả đạt được, Ban quản lý dự án đã hoàn thiện và xây dựng hướng dẫn kỹ thuật chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn phù hợp với điều kiện của tỉnh Phú Thọ, như: Không thiết kế tỉa cành cho cây vì đối với rừng keo tuổi từ 5-7 tuổi việc tỉa cành tự nhiên đã đảm bảo theo diễn thế rừng, giảm thiểu nguy cơ nấm bệnh hại xâm nhập vào vết cắt do quá trình tỉa cành tạo ra, giảm chi phí, nâng cao giá trị rừng trồng; điều chỉnh mật độ sau tỉa thưa lần 1 bình quân từ 800 cây/ha lên 850-900 cây/ha; mật độ sau tỉa thưa lần 2 bình quân từ 550 cây/ha lên 600-650 cây/ha; thay bón 0,3 kg phân phân vi sinh bằng bón từ 0,3- 0,5 kg phân NPK 5.10.3. Hạn chế triển khai thực hiện chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn các loài Keo lai trên địa bàn tỉnh Phú Thọ do ảnh hưởng của mưa bão; cây bị gãy đổ hàng loạt không thể khắc phục, tái tạo thành rừng.
Từ các mô hình thử nghiệm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã chứng minh việc thực hiện chuyển hóa rừng gỗ lớn mang lại hiệu quả đối với sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thông qua dự án cho thấy, cần có các chính sách hỗ trợ tài chính hoặc bảo hiểm rừng trồng cho những diện tích chuyển hóa, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng; cần hoàn thiện chính sách về đất đai, thực hiện tốt các chính sách đầu tư và tín dụng tạo động lực tốt cho chính sách phát triển trồng rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng gỗ lớn. Thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư liên kết vào trồng rừng gắn với tiêu thụ sản phẩm tại tỉnh Phú Thọ nói riêng và cả nước nói chung.
