Nhảy đến nội dung

Nghiên cứu về khoáng sản nội sinh khu vực Đồng Văn, Hà Giang

Nghe bài viết Play Pause
Các nhà khoa học thuộc Liên đoàn Xạ hiếm và Trường Đại học Mỏ và Địa chất vừa hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học về khoáng sản nội sinh khu vực Đồng Văn, Hà Giang với việc làm rõ  các thể magma có diện lộ nhỏ đến trung bình, thành phần từ mafic cho đến axit thuộc phức hệ Cao Bằng và các thể đai mạch granit chưa rõ tuổi (chủ yếu là các đá gabrodiabas, diabas và granit granophyr) và có các biểu hiện khoáng hóa nội sinh của sắt, thiếc - wolfram, antimon, chì - kẽm, góp phần định hướng cho công tác tìm kiếm khoáng sản nội sinh mới trong vùng nghiên cứu.

 

Theo đó, đặc điểm phân bố thân quặng được các nhà khoa học nhận định như sau: Sắt magnetit Phố Mỳ nằm ở ranh giới tiếp xúc giữa đá gabro, gabrodias, congodiabas thuộc phức hệ Cao Bằng (υP3cb) và đá phiến sét, phiến sét sericit hệ tầng Sông Hiến (T­1sh). Thân quặng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam.

Antimon gồm các mỏ khoáng sản nhỏ ở Lẻo Trá Phìn A, Phia Thán, Bản Trang, Po Ma, Hát Han và Mé Lầu. Quặng antimon phân bố trên các đá trầm tích lục nguyên, trầm tích carbonat bị biến đổi thạch anh hóa, dolomit hóa thuộc hệ tầng Luxia, Sông Cầu, Mia Lé, trầm tích lục nguyên-phun trào thuộc hệ tầng Sông Hiến, Bằng Giang và trên các đá xâm nhập thuộc phức hệ Núi Điệng,... Quặng thường có dạng ổ, mạch, thấu kính đôi khi xâm tán nằm trong đới dập vỡ kiến tạo phát triển trong các đá vôi, vôi sét, phiến sét vôi và phiến sét thuộc hệ tầng LuXia, Mia Lé (Bản Trang, Phia Thán, Mé Lầu, Lẻo Trá Phìn A) hoặc nằm tiếp xúc giữa đá trầm tích lục nguyên của hệ tầng Sông Hiến - tập 1 (T1sh1), và đá magma thuộc phức hệ Cao Bằng (υP3cb), Núi Điệng (γT1nđ) (Po Ma, Hát Han).

Các thân quặng thiếc - wolfram trong phân bố ở đới ngoại tiếp xúc giữa đá granit phức hệ Núi Điệng và đá vôi hệ tầng Bắc Sơn. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là casiterit, wolframit và sheelit. Thân quặng phát triển theo phương á vĩ tuyến và á kinh tuyến thường có dạng mạch, mạng mạch lấp đầy khe nứt của đá vôi hệ tầng Bắc Sơn.

Các nhà khoa học đã xác định đặc điểm thành phần khoáng vật. Theo đó, khoáng sản nội sinh trong vùng Đồng Văn về thành phần khoáng vật quặng chủ yếu gặp các khoáng vật nhóm sulfua, ngoài ra gặp một số khoáng vật nhóm oxit. Dưới đây là đặc điểm của một số khoáng vật quặng chính.

Quặng sắt với thành phần khoáng vật quặng khá đơn giản chủ yếu là magnetit, chúng tồn tại dưới dạng các hạt tha hình với kích thước thay đổi từ 0,1 đến 0,4 mm, Magnetit thường xâm tán, tạo các ổ khối trên nền đá.

Quặng antimon khoáng vật quặng chính là antimonit với  hàm lượng khoảng 16%, dưới dạng tấm, hạt tha hình xâm tán, đôi chỗ tạo các ổ mạch trên nền đá. Kích thước của antimonit dao động trong khoảng từ 0,5 đến 2mm, đôi chỗ thấy antimonit đã bị biến đổi thành valentinit.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Thành phần khoáng vật quặng Sn -W khá đa dạng. Các khoáng vật quặng chính là casiterit, wolframit, sheelit. Wolframit có hàm lượng khoảng 10-15%, dạng kéo dài, hạt tha hình. Kích thước hạt thay đổi từ 0,5 đến 2mm phân bố xâm tán rải rác, tạo các ổ, mạch. Ở một vài nơi trong mẫu wolframit được pyrit, sphalerit, chalcopyrit và tetraedit thay thế hoặc xuyên lấp theo các vi khe nứt . Sheelit có hàm lượng khoảng 3-4%, dạng hạt nửa tự hình và tha hình với kích thước từ 0, 04-1mm. Sheelit xâm tán thành đám hạt rải rác hoặc xâm tán không đều trong nền đá. Casiterit có hàm lượng khoảng 3-5%, tại ở dạng hạt đẳng thước xâm tán rải rác, ổ trên nền đá. Kích thước của casiterit  thay đổi 0,01 - 0,3mm.

Ngoài các khoáng vật quặng chính kể trên còn gặp một số khoáng vật sulfua đi kèm như pyrit, tetraedrit, chalcopyrit, galena và sphalerit. Các khoáng vật sulfua thường gặp ở dạng tha hình xâm tán trên nền đá  đôi chỗ  lấp đầy và bị gặm mòn  bởi các khoáng vật sulfua khác.Bên cạnh đó có mặt một số koáng vật thứ sinh như malachit, chancozin, covelin và goethite…

 

 

 

Tác giả bài viết:  Phan Phương

Nguồn tin:  Theo công thông tin điện từ Bộ TN&MT