Kết quả thực hiện chương trình liên tịch giữa sở Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường với các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh đến năm 2012
2. Kết quả triển khai đến năm 2012
2.1. Sở Tài nguyên và Môi trường:
- Chủ động phối hợp với các ngành, các cấp tăng cường tuyên truyền phổ biến Nghị quyết số 41-NQ/TW, Luật BVMT, Chỉ thị 29-CT/TW, Chương trình hành động số 41- CTr/TU của Tỉnh ủy và Chiến lược BVMT tỉnh Phú Thọ đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 đến các tổ chức, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh.
- Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng. chính sách pháp luật của Nhà nước về BVMT trên các phương tiện thông tin đại chúng; trực tiếp biên tập, phát hành Bản tin Tài nguyên và Môi trường; Hướng dẫn thực hiện các hoạt động hưởng ứng các ngày lễ về môi trường; Ra quân thu gom, xử lý trên 1.850 m3 rác thải, khơi thông 10.760 m cống rãnh, vệ sinh 4.508.020 m2 thảm cỏ vườn cây ...
- Phối hợp tổ chức trên 20 lớp tập huấn, tuyên truyền cho hơn 2.000 lượt người tham gia. Trong năm 2010 - 2012 hỗ trợ kinh phí 250 triệu đồng và cử cán bộ trực tiếp giảng bài, tham gia các hoạt động vệ sinh môi trường do các đoàn thể tổ chức.
2.2. Hội Nông dân tỉnh:
- Phối hợp tổ chức mít tinh, kẻ vẽ 714 pano; trồng 21.267 cây xanh thu hút hơn 6.000 hội viên; Thành lập 29 câu lạc bộ nông dân tham gia BVMT với 900 thành viên. Tổ chức, phối hợp mở gần 50 lớp tập huấn truyền thông; phát hành hàng chục ngàn tờ rơi tuyên truyền nâng cao nhận thức về BVMT cho 1.976 lượt cán bộ, hội viên; Phối hợp xây dựng và hoạt động có hiệu quả 03 mô hình nông dân tham gia xử lý rác thải sinh hoạt; xây dựng 264 hầm Biogas; Vệ sinh 2.300 km đường giao thông, nạo vét trên 17.000 m rãnh thoát nước ...
2.3. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh:
- Vệ sinh 5.495.905m đường; nạo vét 4.285.438m cống rãnh; thu gom trên 700 tấn rác; treo 3.400 băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về bảo vệ môi trường.
- Phối hợp tổ chức gần 100 buổi tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức về BVMT cho trên 8.000 lượt cán bộ tham gia.
- Xây dựng 02 mô hình vệ sinh môi trường, phát huy hiệu quả 08 lò đốt rác.
2.4. ủy ban mặt trận Tổ quốc tỉnh:
- Xây dựng 02 mô hình điểm khu dân cư BVMT; Phối hợp tổ chức các hoạt động tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức về BVMT thông qua các hình thức như: Hội nghị, hội thảo, tập huấn, truyền thanh...
- Phối hợp tổ chức cho các khu dân cư, hộ gia đình đăng ký Cam kết BVMT vào tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa.
2.5. Liên đoàn lao động tỉnh:
Phối hợp tổ chức 03 lớp tuyên truyền về công tác BVMT cho gần 300 lượt người; Phát hành 10.000 tờ gấp tuyên truyền; phát động 25.000 buổi vệ sinh; thu gom, xử lý tiêu hủy gần 750 m3 rác thải, chất thải; trồng 20.500 m2 cây xanh; có 125 đề tài, sáng kiến cải tiến kỹ thuật có tác dụng giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
2.6. Liên minh Hợp tác xã tỉnh:
Tổ chức 02 hội thảo, tập huấn về mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã làm vệ sinh môi trường; Hỗ trợ 04 hợp tác xã và tổ hợp tác xây dựng mô hình thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt; Hỗ trợ xây dựng dự án và cho vay ưu đãi với số tiền 1.050.000.000 đồng cho 08 dự án xử lý rác thải sinh hoạt.
2.7. Tỉnh đoàn:
- Tổ chức nhiều chương trình, hoạt động BVMT thu hút trên 21.850 người. Treo 235 băng rôn, khẩu hiệu; thu gom, xử lý trên 08 tấn rác thải; sửa chữa 171,6 km đường, khơi thông 25 km kênh mương; tổ chức diễu hành nhân các ngày lễ về môi trường…
- Tổ chức 402 lớp tập huấn, tuyên truyền, thu hút 52.389 lượt ĐVTN tham gia.
2.8. Hội Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về BVMT và tài nguyên thiên nhiên; Đăng tải các thông tin, chính sách, pháp luật về BVMT trên tập san và website Trí thức Đất Tổ. Tư vấn người dân các xã vùng dự án các biện pháp xử lý phụ phẩm, chất thải nông nghiệp làm phân hữu cơ vi sinh, thức ăn chăn nuôi và công tác BVMT.
- Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường thành lập hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường tỉnh Phú Thọ.
2.9. Hội cựu chiến binh tỉnh:
Tổ chức được 51 lớp tập huấn, tuyên truyền cho gần 4.000 lượt hội viên và nhân dân về pháp luật và công tác BVMT. Phối hợp tổ chức các cuộc mít tinh nhân các ngày lễ về môi trường; Hướng dẫn, yêu cầu các doanh nghiệp, chủ trang trại do Hội làm chủ thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo đạt tiêu chuẩn về môi trường và vận động hội cơ sở tổ chức các mô hình thu gom rác thải ở khu dân cư.
3.10. Phòng Cảnh sát môi trường - Công an tỉnh:
Thường xuyên phối hợp, trao đổi thông tin với Sở Tài nguyên và Môi trường về tình hình hoạt động và việc thực hiện công tác BVMT của các cơ sở sản xuất, kinh doanh được thực hiện linh hoạt dưới nhiều hình thức như: trực tiếp, thông qua văn bản, điện thoại, hộp thư điện tử... để xác minh các thông tin nhằm giải quyết kịp thời, hiệu quả các vụ việc vi phạm về BVMT, nắm tình hình, giải quyết kịp thời các sự cố và khu vực nhạy cảm về môi trường.
3. Đánh giá kết quả đạt được
a. Thuận lợi:
- Công tác lãnh, chỉ đạo về BVMT được tăng cường; nhiều văn bản, chính sách pháp luật về BVMT được ban hành kịp thời; các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xây dựng đồng bộ, hợp lý được gắn với BVMT.
- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của dân cư, tạo ra cơ chế phối hợp đồng bộ, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tham gia BVMT.
- Việc xây dựng các mô hình điểm về BVMT đã cụ thể hóa các hoạt động tuyên truyền, nâng cao tính chủ động của nhân dân trong việc xây dựng các quy chế, hương ước của cộng đồng trong công tác BVMT.
b. Khó khăn, hạn chế và bài học kinh nghiệm:
- Việc phối hợp vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, thường xuyên, thiếu điều kiện cơ sở vật chất để triển khai. Chưa có phương pháp đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông, chưa đưa ra các giải pháp định hướng rõ ràng nên vẫn còn nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh kế hoạch BVMT hàng năm.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa sâu, còn hình thức, chưa thực sự phong phú.
2.1. Sở Tài nguyên và Môi trường:
- Chủ động phối hợp với các ngành, các cấp tăng cường tuyên truyền phổ biến Nghị quyết số 41-NQ/TW, Luật BVMT, Chỉ thị 29-CT/TW, Chương trình hành động số 41- CTr/TU của Tỉnh ủy và Chiến lược BVMT tỉnh Phú Thọ đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 đến các tổ chức, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh.
- Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng. chính sách pháp luật của Nhà nước về BVMT trên các phương tiện thông tin đại chúng; trực tiếp biên tập, phát hành Bản tin Tài nguyên và Môi trường; Hướng dẫn thực hiện các hoạt động hưởng ứng các ngày lễ về môi trường; Ra quân thu gom, xử lý trên 1.850 m3 rác thải, khơi thông 10.760 m cống rãnh, vệ sinh 4.508.020 m2 thảm cỏ vườn cây ...
- Phối hợp tổ chức trên 20 lớp tập huấn, tuyên truyền cho hơn 2.000 lượt người tham gia. Trong năm 2010 - 2012 hỗ trợ kinh phí 250 triệu đồng và cử cán bộ trực tiếp giảng bài, tham gia các hoạt động vệ sinh môi trường do các đoàn thể tổ chức.
2.2. Hội Nông dân tỉnh:
- Phối hợp tổ chức mít tinh, kẻ vẽ 714 pano; trồng 21.267 cây xanh thu hút hơn 6.000 hội viên; Thành lập 29 câu lạc bộ nông dân tham gia BVMT với 900 thành viên. Tổ chức, phối hợp mở gần 50 lớp tập huấn truyền thông; phát hành hàng chục ngàn tờ rơi tuyên truyền nâng cao nhận thức về BVMT cho 1.976 lượt cán bộ, hội viên; Phối hợp xây dựng và hoạt động có hiệu quả 03 mô hình nông dân tham gia xử lý rác thải sinh hoạt; xây dựng 264 hầm Biogas; Vệ sinh 2.300 km đường giao thông, nạo vét trên 17.000 m rãnh thoát nước ...
2.3. Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh:
- Vệ sinh 5.495.905m đường; nạo vét 4.285.438m cống rãnh; thu gom trên 700 tấn rác; treo 3.400 băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về bảo vệ môi trường.
- Phối hợp tổ chức gần 100 buổi tập huấn, tuyên truyền nâng cao nhận thức về BVMT cho trên 8.000 lượt cán bộ tham gia.
- Xây dựng 02 mô hình vệ sinh môi trường, phát huy hiệu quả 08 lò đốt rác.
2.4. ủy ban mặt trận Tổ quốc tỉnh:
- Xây dựng 02 mô hình điểm khu dân cư BVMT; Phối hợp tổ chức các hoạt động tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức về BVMT thông qua các hình thức như: Hội nghị, hội thảo, tập huấn, truyền thanh...
- Phối hợp tổ chức cho các khu dân cư, hộ gia đình đăng ký Cam kết BVMT vào tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa.
2.5. Liên đoàn lao động tỉnh:
Phối hợp tổ chức 03 lớp tuyên truyền về công tác BVMT cho gần 300 lượt người; Phát hành 10.000 tờ gấp tuyên truyền; phát động 25.000 buổi vệ sinh; thu gom, xử lý tiêu hủy gần 750 m3 rác thải, chất thải; trồng 20.500 m2 cây xanh; có 125 đề tài, sáng kiến cải tiến kỹ thuật có tác dụng giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
2.6. Liên minh Hợp tác xã tỉnh:
Tổ chức 02 hội thảo, tập huấn về mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã làm vệ sinh môi trường; Hỗ trợ 04 hợp tác xã và tổ hợp tác xây dựng mô hình thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt; Hỗ trợ xây dựng dự án và cho vay ưu đãi với số tiền 1.050.000.000 đồng cho 08 dự án xử lý rác thải sinh hoạt.
2.7. Tỉnh đoàn:
- Tổ chức nhiều chương trình, hoạt động BVMT thu hút trên 21.850 người. Treo 235 băng rôn, khẩu hiệu; thu gom, xử lý trên 08 tấn rác thải; sửa chữa 171,6 km đường, khơi thông 25 km kênh mương; tổ chức diễu hành nhân các ngày lễ về môi trường…
- Tổ chức 402 lớp tập huấn, tuyên truyền, thu hút 52.389 lượt ĐVTN tham gia.
2.8. Hội Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về BVMT và tài nguyên thiên nhiên; Đăng tải các thông tin, chính sách, pháp luật về BVMT trên tập san và website Trí thức Đất Tổ. Tư vấn người dân các xã vùng dự án các biện pháp xử lý phụ phẩm, chất thải nông nghiệp làm phân hữu cơ vi sinh, thức ăn chăn nuôi và công tác BVMT.
- Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường thành lập hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường tỉnh Phú Thọ.
2.9. Hội cựu chiến binh tỉnh:
Tổ chức được 51 lớp tập huấn, tuyên truyền cho gần 4.000 lượt hội viên và nhân dân về pháp luật và công tác BVMT. Phối hợp tổ chức các cuộc mít tinh nhân các ngày lễ về môi trường; Hướng dẫn, yêu cầu các doanh nghiệp, chủ trang trại do Hội làm chủ thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo đạt tiêu chuẩn về môi trường và vận động hội cơ sở tổ chức các mô hình thu gom rác thải ở khu dân cư.
3.10. Phòng Cảnh sát môi trường - Công an tỉnh:
Thường xuyên phối hợp, trao đổi thông tin với Sở Tài nguyên và Môi trường về tình hình hoạt động và việc thực hiện công tác BVMT của các cơ sở sản xuất, kinh doanh được thực hiện linh hoạt dưới nhiều hình thức như: trực tiếp, thông qua văn bản, điện thoại, hộp thư điện tử... để xác minh các thông tin nhằm giải quyết kịp thời, hiệu quả các vụ việc vi phạm về BVMT, nắm tình hình, giải quyết kịp thời các sự cố và khu vực nhạy cảm về môi trường.
3. Đánh giá kết quả đạt được
a. Thuận lợi:
- Công tác lãnh, chỉ đạo về BVMT được tăng cường; nhiều văn bản, chính sách pháp luật về BVMT được ban hành kịp thời; các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xây dựng đồng bộ, hợp lý được gắn với BVMT.
- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của dân cư, tạo ra cơ chế phối hợp đồng bộ, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tham gia BVMT.
- Việc xây dựng các mô hình điểm về BVMT đã cụ thể hóa các hoạt động tuyên truyền, nâng cao tính chủ động của nhân dân trong việc xây dựng các quy chế, hương ước của cộng đồng trong công tác BVMT.
b. Khó khăn, hạn chế và bài học kinh nghiệm:
- Việc phối hợp vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, thường xuyên, thiếu điều kiện cơ sở vật chất để triển khai. Chưa có phương pháp đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông, chưa đưa ra các giải pháp định hướng rõ ràng nên vẫn còn nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh kế hoạch BVMT hàng năm.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa sâu, còn hình thức, chưa thực sự phong phú.
Tác giả bài viết: Dương Hồng Vân - Chi cục Bảo vệ Môi trường
Nguồn tin: Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin