Nhảy đến nội dung

Đánh giá khái quát kết quả dự án Mạng lưới quan trắc quý IV và tổng kết năm 2014

Nghe bài viết Play Pause
 

Môi trường không khí: Hầu hết, tất cả các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), huyện, thị xã, thành phố, đều bị ô nhiễm bởi bụi, mức độ ô nhiễm bụi trong không khí giữa các vùng có sự khác biệt. Nguyên nhân, chủ yếu là do các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với nhiều loại hình và sử dụng các nguyên, nhiên liệu trong quá trình sản xuất, vận chuyển. Thông số bụi tại điểm quan trắc ở các KCN, CCN đều vượt từ 1,12 đến 4,33 lần. Nồng độ bụi TSP quan trắc được cao nhất là 1,09 mg/m3 tại CCN phía Tây TP.Việt Trì. Nồng độ bụi PM10 cao nhất là 0,513 mg/m3 tại KCN Thụy Vân. Nồng độ khí CO quan trắc được cao nhất tại khu dân cư khu 6 xã Thạch Sơn là 17,02 mg/m3, Nồng độ cao nhất các khí như NOx là 0,277 mg/m3 tại khu vực xung quanh Công ty CP Supe phốt phát 50m về phía Đông Nam vượt 1,45 lần. Nồng độ khí SO2 là 0,422 mg/m3 vượt 1,87 lần. Nồng độ khí H2S quan trắc cao nhất tại trung tâm CCN phía Nam Việt Trì là 0,0289 mg/m3. Tiếng ồn cao nhất tại CCN phía Nam TP.Việt Trì là 83 dBA vượt 1,19 lần. Ô nhiễm không khí từ hoạt động sản xuất tại các làng nghề, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi thường phát sinh các loại khí độc, bụi và nước thải chứa nhiều chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, sunfua. Các khí ô nhiễm này, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng. Tại lò gạch xã Thạch Sơn H. Lâm Thao thông số ô nhiễm không khí cao nhất như CO là 23,35 mg/m3; bụi là 0,69 mg/m3, độ ồn là 73 dBA vượt GTGH. Ô nhiễm không khí từ hoạt động đô thị, dịch vụ, dân sinh, chủ yếu là từ hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, đô thị hóa nông thôn, cải tạo, nâng cấp đường giao thông đã là nguồn gây ô nhiễm về khí, bụi thải và tiếng ồn. Mức độ ô nhiễm tăng cao ở các khu vực đô thị vào thời gian cao điểm. Kết quả quan trắc cho thấy nồng độ bụi TSP quan trắc cao nhất là 0,82 mg/m3 vượt 2,73 lần.. Độ ồn quan trắc tại P.Gia Cẩm TP.Việt Trì là 79,7 dBA vượt 1,14 lần.

Đối với môi trường nước mặt: Các lưu vực, các đầm, hồ, sông, ngòi  quan trắc là nơi tiếp nhận nước thải công nghiệp và sinh hoạt hoạt của đô thị, khu dân cư chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đảm bảo tiêu chuẩn ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt. Bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp: Nồng độ DO quan trắc tại xã Tiên Du của H. Phù Ninh 1,47 mg/l thấp hơn GTGH. Thông số quan trắc cao nhất tại đầm Lầy thị trấn Hạ Hòa COD là 215 mg/l, BOD5 là 161 mg/l, TSS là 201 mg/l, NH4+-N là 2,603 mg/l đều vượt GTGH. Ô nhiễm nước đầm hồ từ ảnh hưởng của đô thị, dịch vụ: Nồng độ DO quan trắc thấp nhất tại đầm Cả xã Từ Đà H.Phù Ninh 1,17 mg/l thấp hơn GTGH. Thông số quan trắc cao nhất tại mương tiếp nhận nước thải sinh hoạt ra P.Gia Cẩm TP. Việt Trì COD là 205 mg/l, BOD5 là 158 mg/l, TSS là 283 mg/l, NH4+-N là 9,266 mg/l đều vượt nhiều lần GTGH. Nước Sông Hồng từ thượng lưu H. Hạ Hòa đã bị ô nhiễm chất hữu cơ, cặn lơ lửng. Xuôi về hạ lưu sông Hồng tiếp nhận rất nhiều nguồn thải dọc theo lưu vực  làm cho nước sông ô nhiễm có tính chất liên vùng. Nồng độ DO quan trắc dưới cửa xả Công ty CP Giấy Việt Trì và cửa xả Công ty CP Supe phốt phát đều thấp hơn GTGH. Thông số quan trắc cao nhất dưới cửa xả công ty CP Giấy Việt Trì 50m về phía hạ lưu, COD là 51 mg/l, BOD5 là 35 mg/l, TSS là 136 mg/l, NH4+-N là 0,359 mg/l đều vượt nhiều lần GTGH. Tuy nhiên, thông số quan trắc thấp nhất trên dòng sông này tại TT. Sông Thao, H. Cẩm Khê các chỉ tiêu quan trắc khác đều trong GTGHCP.

Nước sông Lô được dùng làm nguồn cấp nước cho sinh hoạt. Tuy nhiên, một số điểm quan trắc trên sông Lô đã và đang bị ô nhiễm cục bộ như: Tại Bạch Hạc điểm bắt đầu hòa nhập Sông Hồng, COD là 19,2 mg/l, BOD5 là 9,5 mg/l, TSS quan trắc cao nhất tại khu vực cách cửa hút trạm cấp nước Việt trì 500m về phía thượng lưu là 53 mg/l, thấp nhất cách cửa hút trạm cấp nước Việt Trì 100m về phía thượng lưu, thành phố Việt Trì là 30 mg/l. Nồng độ NH4+-N quan trắc cao nhất tại tại bến kinh doanh, khai thác cát sỏi, xã Tiên Du, H.Phù Ninh là 0,143 mg/l.

Nước Sông Đà: ít chịu tác động nhiều của hoạt động công nghiệp, nhưng lại bị tác động của các hoạt động vận tải đường sông và một lượng nước thải sinh hoạt khu dân cư. Tuy nhiên, chất lượng nước sông Đà vẫn có thể dùng cấp cho sinh hoạt nhưng phải được xử lý trước khi sử dụng. Các thông số ô nhiễm diễn biến tương đối ổn định. Qua kết quả quan trắc chất lượng nước ở sông Lô, sông Chảy và sông Đà, sông Bứa, suối Dân tương đối tốt. Các thông số ô nhiễm đều nằm trong GTGH theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Môi trường nước ngầm cũng tương đối tốt. Tuy nhiên, còn có thông số độ cứng cao, nhất là tại khu 2 xã Yên Tập, H. Cẩm Khê là 966 mg/l. Nồng độ NH4+-N cao nhất tại P.Vân Phú TP.Việt Trì là 0,335 mg/l, Fe 1,448 mg/l. Độ oxy hóa quan trắc cao nhất tại khu 3, xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao là 2,41 mg/l.

Tóm lại, qua kết quả quan trắc tại các điểm mạng lưới quan trắc môi trường trong quý IV và tổng kết năm 2014, cho thấy: Hiện trạng chất lượng môi trường đất, nước, không khí, đều có thông số ô nhiễm vượt GTGH. Do vậy, để ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm cần tiếp tục duy trì và nâng cao quản lý Nhà nước về bảo vệ Môi trường, quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khai thác khoáng sản. Cần có biện pháp cụ thể cho từng khu vực bị ô nhiễm thường xuyên. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cũng như nước thải công nghiệp tập trung. Có biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm đất tại điểm quan trắc H.Cẩm Khê. Các cơ sở sản xuất cần quan tâm, thực hiện các quy định Pháp luật về bảo vệ môi trường, kiểm soát chặt chẽ nguồn thải trước khi ra môi trường. Đồng thời, tích cực đổi mới, nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với mọi người dân.

Tác giả bài viết:  Hà Thị Minh Chúc - Phó Giám đốc TT Quan trắc và BV môi trường