Nhảy đến nội dung

Đánh giá khái quát kết quả dự án mạng lưới quan trắc quý III/2014

Nghe bài viết Play Pause
Môi trường đất: Các điểm quan trắc đất phần lớn là đất nông nghiệp tại các huyện, thành, thị trên địa bàn toàn tỉnh như: Khu vực đất trồng rau Bạch Hạc, đất nông nghiệp xã Thụy Vân, đất đồi xã Hy Cương, đất nông nghiệp xã Hùng Lô, đất trồng rau sạch xã Tân Đức,...Thông số phân tích pH, As, Cd, Cu, Pb, Zn, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (DDT). Kết quả quan trắc, phân tích so sánh với giá trị giới hạn của QCVN 03:2008/BTNMT, QCVN 15:2008/BTNMT, cho thấy: các thông số quan trắc, phân tích tại các điểm quan trắc đều trong giá trị giới hạn cho phép (GTGTCP). Tuy nhiên, H. Cẩm Khê điểm quan trắc đất cánh đồng Chuông Lau, khu 2, xã Yên Tập; đất nông nghiệp, khu 2, xã Yên Tập; đất ruộng Đình Xa, khu 2, xã Thanh Nga. Nồng độ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (DDT) từ 0,043 đến 0,303 mg/kg vượt GTGHCP từ 4,3 đến 30,3 lần. Nguyên nhân, tại khu vực quan trắc còn tồn lưu của kho hóa chất bảo vệ thực vật từ nhiều năm trước, chưa xử lý triệt để.

  Môi trường không khí: Từ hoạt động sản xuất công nghiệp đa dạng  mà lượng khí thải vào môi trường chủ yếu là khí SO2, H2S, H2SO4, HF, CO, NO2 và bụi. Tất cả các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), huyện, thị xã, thành phố, đều bị ô nhiễm bởi bụi, mức độ ô nhiễm bụi trong không khí giữa các vùng có sự khác biệt. Nguyên nhân, chủ yếu là do các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với nhiều loại hình và sử dụng các nguyên, nhiên liệu trong quá trình sản xuất, vận chuyển. Thông số bụi tại điểm quan trắc ở các KCN, CCN đều vượt từ 1,15 đến 2,83 lần. Nồng độ bụi TSP quan trắc được cao nhất là 0,83 mg/m3 tại CCN phía Tây TP.Việt Trì. Nồng độ bụi PM10 cao nhất là 0,424 mg/m3 tại KCN Thụy Vân. Nồng độ khí CO quan trắc được cao nhất tại ngã tư gần công ty DeaYang Vina KCN Thụy Vân là 13,48 mg/m3, Nồng độ cao nhất các khí như NOx là 0,288 mg/m3 tại khu vực xung quanh công ty CP supe phốt phát 50m về phía Đông Nam vượt 1,47 lần. Nồng độ khí SO2 là 0,438 mg/m3 vượt 1,25 lần. Nồng độ khí H2S quan trắc cao nhất tại trung tâm Bãi Bằng H. Phù Ninh là 0,0199 mg/m3. Tiếng ồn cao nhất tại CCN phía Nam TP.Việt Trì là 81,5 dBA vượt 1,16 lần. Ô nhiễm không khí từ hoạt động sản xuất tại các làng nghề, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi thường phát sinh các loại khí độc, bụi và nước thải chứa nhiều chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, sunfua. Các khí ô nhiễm này, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng. Tại lò gạch xã Thạch Sơn H. Lâm Thao thông số ô nhiễm không khí cao nhất như CO là 26,63 mg/m3; bụi là 0,58 mg/m3, độ ồn là 72,5 dBA vượt GTGHCP. Ô nhiễm không khí từ hoạt động đô thị, dịch vụ, dân sinh, chủ yếu là từ hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, đô thị hóa nông thôn, cải tạo, nâng cấp đường giao thông đã là nguồn gây ô nhiễm về khí, bụi thải và tiếng ồn. Mức độ ô nhiễm tăng cao ở các khu vực đô thị vào thời gian cao điểm. Kết quả quan trắc cho thấy nồng độ bụi TSP quan trắc cao nhất là 0,85 mg/m3 vượt 2,83 lần.. Độ ồn quan trắc tại P.Gia Cẩm TP.Việt Trì là 79,4 dBA vượt 1,13 lần, nồng độ khí quan trắc cao nhất như khí CO là 10,76 mg/m3, khí SO2 là 0,408 mg/m3, khí H2S cao nhất là 0,0132 mg/m3 tại khu vực huyện Lâm Thao.

Đối với môi trường nước mặt: Các lưu vực, các đầm, hồ, sông, ngòi  quan trắc là nơi tiếp nhận nước thải công nghiệp và sinh hoạt hoạt của đô thị, khu dân cư chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đảm bảo tiêu chuẩn ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt. Bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp: Nồng độ DO quan trắc tại xã Tiên Du của H. Phù Ninh, DO là 1,47 mg/l chưa đạt GTGHCP. Thông số quan trắc cao nhất tại đầm Lầy thị trấn Hạ Hòa COD là 197 mg/l, BOD5 là 145 mg/l, TSS là 267 mg/l, NH4+-N là 2,249 mg/l đều vượt GTGHCP. Ô nhiễm nước đầm hồ từ ảnh hưởng của đô thị, dịch vụ: Nồng độ DO quan trắc thấp nhất tại đầm Cả xã Từ Đà H.Phù Ninh 1,43 mg/l chưa đạt GTGHCP. Thông số quan trắc cao nhất tại mương tiếp nhận nước thải sinh hoạt ra P.Gia Cẩm TP. Việt Trì COD là 176mg/l, BOD5 là 132 mg/l, TSS là 329 mg/l, NH4+-N là 8,575 mg/l đều vượt nhiều lần GTGHCP.

Nước Sông Hồng từ thượng lưu H. Hạ Hòa đã bị ô nhiễm chất hữu cơ, cặn lơ lửng. Xuôi về hạ lưu sông Hồng tiếp nhận rất nhiều nguồn thải dọc theo lưu vực  làm cho nước sông ô nhiễm có tính chất liên vùng. Nồng độ DO quan trắc dưới cửa xả công ty CP Hóa chất Việt Trì và cửa xả công ty CP Supe phôt phat đều chưa đạt GTGHCP. Thông số quan trắc cao nhất dưới cửa xả công ty CP Giấy Việt Trì 50m về phía hạ lưu, COD là 40 mg/l, BOD5 là 22 mg/l, TSS là 184mg/l, NH4+-N là 0,322 mg/l đều vượt nhiều lần GTGHCP. Tuy nhiên, thông số quan trắc thấp nhất trên dòng sông này tại khu 6, TT. Sông Thao, H. Cẩm Khê COD là 15,8 mg/l, TSS là 89 mg/l vẫn vượt GTGHCP, còn các chỉ tiêu quan trắc khác đều trong GTGHCP.

Nước sông Lô được dùng làm nguồn cấp nước cho sinh hoạt. Tuy nhiên, một số điểm quan trắc trên sông Lô đã và đang bị ô nhiễm cục bộ như: Thông số quan trắc cao nhất tại Bạch Hạc điểm bắt đầu hòa nhập Sông Hồng, COD là 15,1 mg/l, BOD5 là 7,9 mg/l. Thông số TSS quan trắc cao nhất tại khu vực cảng An Đạo, huyện Phù Ninh là 81 mg/l, thấp nhất cách cửa hút trạm cấp nước 100m về phía thượng lưu là 48 mg/l. Nồng độ NH4+-N quan trắc cao nhất tại tại bến kinh doanh, khai thác cát sỏi, xã Tiên Du, H.Phù Ninh là 0,116 mg/l, thấp nhất tại khu vực xã Chi Đám, H.Đoan Hùng là 0,010 mg/l.

Nước Sông Đà: ít chịu tác động nhiều của hoạt động công nghiệp, nhưng lại bị tác động của các hoạt động khai thác khoáng sản, đánh bắt thuỷ sản, vận tải đường sông và một lượng nước thải sinh hoạt khu dân cư. Tuy nhiên, chất lượng nước sông Đà vẫn có thể dùng cấp cho sinh hoạt nhưng phải được xử lý trước khi sử dụng. Các thông số ô nhiễm diến biến tương đối ổn định. Thông số quan trắc cao nhất tại khu vực bến phà Trung Hà COD là 14,8 mg/l, BOD5 là 9,1 mg/l, thấp nhất tại xã Tinh Nhuệ, H.Thanh Sơn COD là 9,3 mg/l, BOD5 là 5,5 mg/l. Thông số TSS quan trắc cao nhất tại bến Cát, Thanh Thủy là 82 mg/l. Qua kết quả quan trắc chất lượng nước ở sông Lô, sông Chảy và sông Đà, sông Bứa, suối Dân tương đối tốt. Các thông số ô nhiễm đều nằm trong GTGHCP theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Chất lượng nước sông Hồng tại các vị trí tiếp nhận nước thải công nghiệp và sinh hoạt ô nhiễm hơn và mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào nguồn thải, lưu lượng và chất lượng nước thải, điều kiện thời tiết, khí tượng thuỷ văn.

 Môi trường nước ngầm: Độ cứng cao nhất tại khu 2 xã Yên Tập, H. Cẩm Khê là 972 mg/l. Nồng độ NH4+-N cao nhất tại khu 8 P.Vân Phú TP.Việt Trì là 0,234 mg/l. Nồng độ Fe quan trắc cao nhất tại xã Thụy Vân, là 1,441 mg/l. Độ oxy hóa quan trắc cao nhất tại khu 2, P. Thanh Miếu là 1,61 mg/l.

Tóm lại, qua kết quả quan trắc tại các điểm mạng lưới quan trắc môi trường trong quý III/2014, cho thấy: Hiện trạng chất lượng môi trường đất, nước, không khí, đều có thông số ô nhiễm vượt GTGHCP. Do vậy, để ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm cần tiếp tục duy trì và nâng cao quản lý Nhà nước về bảo vệ Môi trường, quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khai thác khoáng sản. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cũng như nước thải công nghiệp tập trung. Có biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm đất tại điểm quan trắc H.Cẩm Khê. Các cơ sở sản xuất công nghiệp cần quan tâm, thường xuyên thực hiện các quy định Pháp luật về bảo vệ môi trường, kiểm soát chặt chẽ nguồn thải trước khi ra môi trường. Đồng thời, tích cực đổi mới, nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của mọi công dân.

Tác giả bài viết:  Hà Thị Minh Chúc - Phó Giám đốc TT Quan trắc và BV môi trường