Qua kết quả quan trắc, phân tích môi trường đánh giá khái quát như sau: Thông số các chất ô nhiễm trong không khí và nước tại một số khu dân cư xung quanh các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) và các khu vực tập trung dân cư có mật độ giao thông cao vượt giới hạn cho phép (GHCP). Các thông số ô nhiễm ảnh hưởng liên vùng, các nguồn khí thải lan truyền trong không gian theo hướng gió đem nguồn ô nhiễm từ vùng này sang vùng khác. Nồng độ các chất ô nhiễm không khí như bụi, CO, SO2, NOx tại KCN Thuỵ Vân, CCN phía Nam, phía Đông TP.Việt Trì, CCN Bạch Hạc, khu trung tâm thành phố, khu vực xung quanh Tổng công ty Giấy Việt Nam, CCN Đồng Lạng huyện Phù Ninh, Công ty CP Supe phốt phát và Hoá chất Lâm Thao, Công ty CP Xi măng Phú Thọ, mỏ đá Ninh Dân, mỏ đá Thanh Ba, huyện Tam Nông, huyện Thanh Thuỷ, huyện Cẩm Khê như sau: Nồng độ bụi trung bình trong không khí vượt GHCP từ 1,03 đến 3,03 lần. Nồng độ các khí như CO quan trắc được cao nhất tại khu vực lò gạch xã Thạch Sơn huyện Lâm Thao là 22,57 mg/m3, khu KCN Thuỵ Vân là 11,24 mg/m3, nồng độ thấp nhất quan trắc tại khu vực dân cư ngã 3 xã Thu Cúc huyện Tân Sơn là 3,32 mg/m3. Nồng độ cao nhất các khí như NOx là 0,272 mg/m3 tại khu vực xung quanh Công ty CP supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao 50m về phía Đông Nam huyện Lâm Thao vượt giới hạn cho phép 1,36 lần. Nồng độ khí H2S quan trắc cao nhất tại trung tâm khu vực CCN Bãi Bằng huyện Phù Ninh là 0,0176 mg/m3, nồng độ thấp nhất quan trắc tại khu 15 xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn là 0,0016 mg/m3. Tiếng ồn cao nhất tại trung tâm cụm khu vực công nghiệp phía Nam thành phố Việt Trì là 82,5 dBA vượt giới hạn cho phép 1,17 lần.
Đối với môi trường nước mặt, các lưu vực tiếp nhận nước thải chịu ảnh hưởng bởi các chất ô nhiễm môi trường theo dòng chảy. Một số các đầm, hồ quan trắc là nơi tiếp nhận nước thải công nghiệp và sinh hoạt chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đảm bảo tiêu chuẩn. Đặc biệt, nước thải sinh hoạt của đô thị, khu dân cư chưa có hệ thống xử lý tập trung. Nồng độ DO chưa đạt tiêu chuẩn tại một số đầm hồ, điển hình là nước mặt khu 1 xã Tiên Du, Tử Đà của huyện Phù Ninh, DO là 1,49 mg/l. Đầm Lầy thị trấn Hạ Hòa, mương tiếp nhận NTSH ra phường Gia Cẩm thành phố Việt Trì có thông số COD là 203 mg/l, BOD5 là 154 mg/l, TSS là 279 mg/l, NH4+-N 41 mg/l vượt nhiều lần GHCP.
Nước Sông Hồng từ thượng lưu xã Hậu Bổng, huyện Hạ Hòa đã bị ô nhiễm. Tại vị trí cách cửa thải Công ty cổ phần giấy Lửa Việt 100m về phía hạ lưu của huyện Hạ Hoà COD là 29,7 mg/l, BOD5 là 15,2 mg/l, NH4+-N là 0,168 mg/l. Xuôi về hạ lưu sông Hồng tiếp nhận rất nhiều nguồn thải dọc theo lưu vực sông làm cho dòng sông ô nhiễm có tính chất liên vùng. Thông số ô nhiễm TSS, COD, BOD5, NH4+-N. NO2--N, colifform vượt GHCP khoảng từ 1,03 - 3,5 lần. Nồng độ DO hòa tan trong nước thấp chưa đạt quy chuẩn.
Nước sông Lô được dùng làm nguồn cấp nước cho sinh hoạt. Tuy nhiên, một số điểm quan trắc trên sông Lô đã và đang bị ô nhiễm cục bộ về TSS, COD, BOD5. Tại bến khai thác kinh doanh cát sỏi xã Tiên Du, huyện Phù Ninh COD là 15,2 mg/l, BOD5 là 7,3 mg/l, thấp nhất tại khu vực xã Chí Đám huyện Đoan Hùng COD là 12,4 mg/l, BOD5 là 6,2 mg/l. Nồng độ TSS quan trắc cao nhất tại khu vực cảng An Đạo, xã Phù Ninh là 48 mg/l, thấp nhất tại khu vực xã Chí Đám huyện Đoan Hùng là 36 mg/l.
Nước sông Đà có thể dùng cấp cho sinh hoạt nhưng phải được xử lý trước khi sử dụng. Tại hạ lưu CCN Trung Hà có thông số COD là 19,1 mg/l, BOD5 là 12,8 mg/l, TSS tại khu 2 xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy là 50 mg/l.
Chất lượng nước ở các sông tương đối tốt đó là sông Lô, sông Chảy và sông Đà. Các thông số ô nhiễm đều nằm trong GHCP theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Riêng chất lượng nước sông Hồng, sông Bứa, tại các vị trí tiếp nhận nước thải công nghiệp và sinh hoạt, ô nhiễm hơn, mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào lưu lượng nước thải, nguồn thải, điều kiện thời tiết, khí tượng thuỷ văn. Về phía hạ lưu cách các điểm tiếp nhận nước thải khoảng 1- 2 km mức độ ô nhiễm giảm dần do được pha loãng và khả năng tự làm sạch của dòng sông. Nhưng đối với sông Hồng tiếp nhận rất nhiều nguồn nước thải với lưu lượng lớn nên sự ô nhiễm kéo dài khoảng 100-150 m.
Môi trường nước ngầm tại một số vị trí của thành phố Việt Trì, huyện Phù Ninh, ô nhiễm về nồng độ NH4+-N, độ cứng. Ngoài ra, tại một số vị trí quan trắc có phát hiện thấy các yếu tố nguy hại, mặc dù chúng tồn tại với nồng độ trong GHCP nhưng khi sử dụng lâu dài có khả năng chúng sẽ tích luỹ sinh học trong cơ thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của người sử dụng. Các yếu tố này đang có xu thế tăng theo thời gian cả về nồng độ và diện tích phân bố, tập trung chủ yếu tại những khu vực có các nguồn có khả năng gây ô nhiễm cao như các bãi rác thải và KCN.
Ô nhiễm môi trường làm thay đổi các tính chất vật lý, hoá học, sinh học, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho môi trường sống trở nên không an toàn với con người và sinh vật. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hiện nay. Hơn nữa, ô nhiễm nước trên các lưu vực sông sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân và mọi hoạt động sản xuất. Những bộ phận dân cư sống bằng nước giếng khoan và nước ngầm, sẽ phải đối mặt nguy cơ thiếu nước sinh hoạt trầm trọng. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân mà còn có thể ảnh hưởng lớn tới mục tiêu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường bền vững.
Tác giả bài viết: Hà Thị Minh Chúc - Giám đốc TT Quan trắc và BV môi trường