Phú Thọ là tỉnh miền núi, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh miền núi Tây Bắc.
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 353.456 ha, diện tích rừng là 140.648,8 ha (chiếm 39,8 % so với tổng diện tích tự nhiên), trong đó: Rừng đặc dụng 15.339,5 ha (chiếm 10,9% rừng); rừng phòng hộ 29.499,1 ha (chiếm 21%); và rừng sản xuất 95.810,2 ha (chiếm 68,1%). Tỷ lệ che phủ rừng đạt 39,8%. Tỉnh Phú Thọ xác định lâm nghiệp là tiềm năng và lợi thế trong phát triển kinh tế của địa phương. Những năm qua, tỉnh Phú Thọ đã triển khai đồng bộ các giải pháp, tăng cường các chính sách khuyến khích, hỗ trợ thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp. Trong đó, đẩy mạnh ứng dụng các biện pháp kỹ thuật, tập trung đầu tư trồng và chuyển hóa rừng gỗ lớn - hiện là xu hướng tất yếu của ngành Lâm nghiệp tỉnh nhà, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao cho người trồng rừng mà còn góp phần giảm xói mòn, rửa trôi đất… bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
* Thực trạng phát triển gỗ lớn trên địa bàn tỉnh
Theo đánh giá của các chuyên gia và khảo sát tại các hộ đã trồng rừng gỗ lớn được biết, trồng rừng gỗ nhỏ 7 năm tuổi cho năng suất 80 m3, sau khi trừ chi phí lợi nhuận 6 triệu đồng/ha/năm; nếu trồng, chuyển hóa gỗ lớn 11 năm cho năng suất 150m3 sau khi trừ chi phí lợi nhuận 12 triệu đồng/ha/ năm; như vậy năng suất tăng gấp 1,5 lần, lợi nhuận tăng gấp 2 lần. Có được hiệu quả trên là do trong quá trình kinh doanh gỗ lớn đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, từ khâu chọn điều kiện lập địa, giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc…, trong đó biện pháp kỹ thuật tỉa thưa rừng đã góp phần quan trọng vào năng suất, chất lượng rừng. Tại thời điểm bước vào năm thứ 5 và năm thứ 8, cây rừng có sự sinh trưởng, phát triển mạnh; tuy nhiên, với mật độ dày đã xuất hiện hiện tượng cạnh tranh dinh dưỡng, nếu không tỉa thưa thì cây rừng có xu hướng phát triển về chiều cao, hạn chế phát triển về đường kính. Việc tỉa thưa sẽ giúp mở tán, giảm cạnh tranh dinh dưỡng để cây rừng sinh trưởng mạnh về đường kính. Do vậy, sự chênh lệch về sinh trưởng cây rừng giữa 2 hình thức kinh doanh đã bắt đầu thể hiện rõ từ năm thứ 5 đến năm thứ 8 sau khi áp dụng biện pháp tỉa thưa. Đường kính cây rừng kinh doanh gỗ lớn có thể tăng gấp đôi so với kinh doanh gỗ nhỏ. Thêm vào đó, giá gỗ cũng có sự chênh lệch lớn và với kinh doanh gỗ nhỏ thì giá bán hiện chỉ 1,1 triệu đồng/m3. Tuy nhiên, với kinh doanh gỗ lớn thì gỗ tại thời điểm khai thác được bán với giá 2,3 - 2,5 triệu đồng/m3 (chênh lệch giá gấp đôi so với giá bán).
Hiệu quả kinh tế mang lại từ việc kinh doanh gỗ lớn là rõ ràng. Tuy nhiên, tính đến hết năm 2020 toàn tỉnh thực hiện trồng và chuyển hóa trên 7.000 ha rừng gỗ lớn. Diện tích rừng gỗ lớn chiếm tỷ lệ quá thấp so với diện tích rừng sản xuất. Nguyên nhân của vấn đề này có thể đưa ra gồm các nhóm nguyên nhân cụ thể như sau:
Vấn đề về vốn: Trồng rừng gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài, đòi hỏi phải có vốn, trong khi điều kiện kinh tế của các hộ dân còn khó khăn, khó tiếp cận vốn vay ngân hàng. Do đó, chủ rừng thường trồng rừng gỗ nhỏ với chu kỳ ngắn 5-7 năm do có nguồn thu nhanh hơn để trang trải cuộc sống, hoặc có thể sớm quay vòng đầu tư tiếp.
Vấn đề về quỹ đất trồng rừng: Hiện quỹ đất để trồng rừng gỗ lớn đan xen giữa các chủ rừng là Nhà nước và gia đình; đa số các hộ gia đình có diện tích rừng nhỏ, manh mún. Chưa hình thành các vùng nguyên liệu gỗ lớn tập trung có diện tích đủ lớn nhằm tạo điều kiện cho việc liên doanh, liên kết đầu tư cơ sở hạ tầng.
Vấn đề về chất lượng giống: Lâm nghiệp là một ngành sản xuất kinh doanh có chu kỳ dài, chất lượng giống có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế. Với kinh doanh gỗ lớn thì vai trò của giống tốt còn có ý nghĩa hơn gấp nhiều lần. Nếu chọn được giống tốt thì sẽ cho cho năng suất chất lượng cao, chu kỳ trồng rừng mới được kéo dài, còn chọn giống kém chất lượng, quá trình sinh trưởng, phát triển, nhiều cây bị sâu bệnh, dễ đổ gẫy phải chấp nhận bán non với giá thấp.
Vấn đề nhu cầu thị trường trong tỉnh: Số lượng đơn vị sản xuất, kinh doanh chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh tương đối lớn 2.700 cơ sở kinh doanh và chế biến gỗ, trong đó có gần 600 doanh nghiệp, trên 2.100 hộ cá thể. Tuy nhiên, nhu cầu của các đơn vị này chủ yếu là chế biến thô như băm dăm, ván xẻ, ván thanh và ván bóc nên chủ yếu cần nguyên liệu gỗ nhỏ.
* Mục tiêu và giải pháp phát triển rừng gỗ lớn và nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh
Mục tiêu của ngành lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ đến năm 2025 là giữ ổn định độ che phủ rừng là 38,8%; thúc đẩy trồng, chuyển hóa đạt 20.000 ha rừng cây gỗ lớn trong đó trồng mới 15.350 ha, chuyển hóa 4.650 ha; hỗ trợ cấp chứng chỉ rừng bền vững FSC cho 25.000 ha rừng; sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng 3.500 nghìn m3; năng suất rừng trồng đạt 15m3/ha/ năm. Để đạt được mục tiêu này, cần phải thực hiện giải pháp đồng bộ từ khâu quy hoạch vùng trồng phù hợp; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, doanh nghiệp và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển kinh doanh gỗ lớn; các giải pháp kỹ thuật từ khâu chọn tạo giống, trồng chăm sóc, khai thác và chế biến; chính sách, chủ trương của nhà nước; cụ thể:
Giải pháp về thông tin, tuyên truyền: Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển lâm nghiệp nói chung, phát triển rừng gỗ lớn nói riêng. Đặc biệt là chính sách hỗ trợ chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ lớn, cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC theo Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Về chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Cung cấp thông tin về giống chất lượng cao, giống tiến bộ kỹ thuật phục vụ sản xuất và cơ sở cung cấp giống uy tín để mọi tầng lớp nhân dân biết, hiểu và thực hiện tốt việc đầu tư kinh doanh gỗ lớn.
Giải pháp về cơ chế, chính sách: Vận dụng cơ chế, chính sách đầu tư của trung ương cho lĩnh vực lâm nghiệp vào điều kiện thực tiễn của tỉnh, đồng thời kịp thời đề xuất với tỉnh ban hành những chính sách hỗ trợ cho phát triển gỗ lớn, nhất là khâu chọn tạo giống và chuyển hóa gỗ lớn.
Hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với các chủ rừng để tạo thành vùng nguyên liệu quy mô lớn, đầu tư trồng rừng gỗ lớn, canh tác bền vững để đạt cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) theo phương thức: Doanh nghiệp đầu tư vốn, kỹ thuật, các chủ rừng góp vốn bằng quyền sử dụng đất, khi có sản phẩm khai thác được hưởng quyền lợi theo tỷ lệ góp vốn, hình thành chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa lâm nghiệp, tăng sức cạnh tranh của thị trường. Khuyến khích các doanh nghiệp thiết lập mối liên hệ với hộ trồng rừng nhằm đảm bảo việc cung cấp nguyên liệu ổn định, vùng nguyên liệu được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, nguyên liệu tham gia vào chuỗi hành trình sản phẩm CoC…Quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng cho lâm nghiệp nhằm thúc đẩy, hỗ trợ cho sản xuất Lâm nghiệp, từ khâu trồng rừng, khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Giải pháp về khoa học, công nghệ: Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển các giống có năng suất chất lượng cao, lựa chọn các giống có năng suất cao, phù hợp phát triển rừng gỗ lớn với từng điều kiện lập địa nơi trồng. Đẩy mạnh nghiên cứu cơ giới hóa lâm nghiệp vào các khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch chế biến lâm sản, xây dựng mô hình canh tác lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao để nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp.
Giải pháp về quản lý nhà nước: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác quản lý giống, vật tư trên địa bàn tỉnh đảm bảo nguồn giống, vật tư xuất ra thị trường đảm bảo chất lượng, góp phần nâng cao sản lượng, chất lượng và giá trị rừng.
Với các giải pháp đồng bộ cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, sự hưởng ứng tích cực của người dân, các chủ rừng, hy vọng giá trị sản xuất lâm nghiệp trong giai đoạn tới sẽ được tăng lên, tái cơ cấu lâm nghiệp sẽ bước khởi sắc, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh .
![]() |
Ảnh: Hướng dẫn chăm sóc rừng tròng chuyển hóa từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn tại huyện Hạ Hòa

