Nằm ở điểm cuối của dãy núi Hoàng Liên Sơn, Vườn quốc gia Xuân Sơn thuộc huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ có tổng diện tích tự nhiên 15.048 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 11.069 ha,
Vườn quốc gia Xuân Sơn được đánh giá là nơi có đa dạng sinh học đứng thứ 16 trong tổng số 32 Vườn quốc gia trong cả nước, theo số liệu thống kê năm 2013 (quy hoạch phát triển bền vững Vườn quốc gia Xuân Sơn gia đoạn 2013-2020), về tài nguyên thực vật có 1.269 loài, trong đó có 46 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Về tài nguyên động vật có 370 loài, trong đó có nhiều loài quý hiếm cần được bảo tồn như Sơn dương, Báo Hoa mai, Gấu, Hồng Hoàng, Gà rừng…
Để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng nói chung và tính đa dạng sinh học của Vườn nói riêng, chúng ta không thể không nói đến vai trò chỉ đạo của cấp uỷ chính quyền, các hội, đoàn thể ở địa phương; các trạm bảo vệ rừng thuộc đội bảo vệ rừng chuyên trách với nhiệm vụ của một chủ rừng và đặc biệt là sự tham gia quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng các thôn bản vùng đệm trong và ngoài Vườn quốc gia Xuân Sơn. Trước năm 2004, Vườn quốc gia Xuân Sơn thực hiện chính sách giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên cho cá nhân các hộ gia đình tuy nhiên qua tìm hiểu nghiên cứu, thì thấy hình thức giao khoán trên vẫn chưa phụ hợp, do chưa găn kết được cộng đồng địa phương vào công tác quản lý BVR và PCCCR, do những hộ không được giao khoán họ không có quyền lợi và nghĩa vụ gì trong việc tuần tra và ngăn chặn, phát hiện các hành vi vi phạm đến tài nguyên rừng. Do vậy từ năm 2004 đến nay Vườn quốc gia Xuân Sơn đã thay đổi hình thức giao khoán chuyển từ hình thức giao khoán theo hộ gia đình sang hình thức giao khoán cho cộng đồng thôn bản với phương thức ký hợp đồng là cộng đồng thôn cử 1 người đại diện ra ký hợp đồng BVR với Vườn quốc gia Xuân Sơn, các hộ thành viên là các hộ gia đình trong thôn, trách nhiệm tuần tra BVR là do cộng đồng tự xắp xếp cho các thành viên thực hiện theo tháng, quý hoặc đột xuất…, quyền lợi thì các hộ hưởng đồng đều. Hàng năm Vườn đã giao khoán BVR với diện tích 9.800 ha cho 16 cộng đồng với 1.300 thành viên. Từ khi thực hiện hình thức giao khoán trên thì công tác QLBVR được tốt hơn rõ dệt, không có vụ vi phạm về lâm luật trên địa bàn, diện tích rừng tự nhiên tái sinh tăng từ 8.700 ha (năm 2005) lên 11.069 ha (năm 2015), đã gắn kết được trách nhiệm của cộng đồng thôn bản trong công tác QLBVR & PCCCR.
Xã Xuân Sơn nằm trọn trong vùng đệm trong của Vườn quốc gia với hơn 200 hộ dân, hơn 1.000 khẩu chủ yếu là dân tộc Dao, Mường. Đồng bào nơi đây sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và các sản phẩm từ rừng; chính vì vậy vấn đề làm sao để giải quyết được hài hoà giữa việc bảo vệ rừng và sinh kế của người dân là bài toán khó đặt ra cho chính quyền nơi đây. Gặp chúng tôi tại UBND xã trong buổi đánh giá thực hiện hương ước, quy ước bảo vệ rừng, Ông Bàn Văn Tố trưởng bản Dù cho biết: Trước đây, nhiều hộ trong bản bị thiếu gạo vào các vụ giáp hạt, do thiếu lương thực nên người dân thường xuyên vào rừng săn bắt thú và chặt gỗ gây áp lực lớn vào rừng đặc biệt là khu vực bảo vệ nghiêm ngặt nằm sâu trong vùng lõi của Vườn;
Để giải quyết vấn đề này, một mặt Vườn quốc gia Xuân Sơn, Hạt Kiểm lâm Tân Sơn phối hợp cùng với cấp ủy, chính quyền các xã có diện tích rừng thuộc ranh giới của Vườn tăng cường tuyên truyền, vận động người dân thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Cùng với đó, UBND xã, cán bộ Kiểm lâm địa bàn cũng triển khai xây dựng quy ước, hương ước đến từng hộ gia đình trong bản. Việc xây dựng hương ước, quy ước đã giúp người dân có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng. Những diện tích rừng được người dân bảo vệ, chăm sóc luôn phát triển tốt, các loại cây gỗ quý đều được bảo vệ nghiêm ngặt. Trưởng bản thường xuyên tổ chức họp dân để thông báo tình hình thực hiện hương ước, quy ước; tình hình phát triển sản xuất, an ninh trật tự và các mặt khác của đời sống. Ðây cũng là dịp để mọi người thắt chặt tình đoàn kết giúp nhau phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống. Đồng thời với việc triển khai xây dựng quy ước, hương ước, Vườn cũng hỗ trợ người dân nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng; xây dựng một số mô hình như trồng cây chè shan, giổi ăn hạt, trồng khoai tầng, nuôi gà nhiều cựa…
|
| Kiểm lâm địa bàn huyện Tân Sơn bàn phương án tuần tra, kiểm tra rừng tại Xuân Sơn |
Đặc biệt, những năm gần đây đời sống của người dân dần được nâng cao nên lượng du khách lên thăm quan, du lịch Vườn ngày một tăng; nắm bắt và đón đầu được xu thế đó, một số hộ gia đình tại Bản Dù, Lấp đã mạnh dạn đầu tư, sửa sang, nâng cấp nhà ở của gia đình để phục vụ nhu cầu ăn, nghỉ của du khách theo dạng homestay. Sau một thời gian hoạt động, nhiều homestay đã tạo được uy tín và có lượng khách, doanh thu ổn định từ 200-300 triệu/năm như Quỳnh Nga homestay, Lâm homestay…Việc phát triển du lịch cộng đồng giúp tạo nguồn thu ổn định cho một bộ phận không nhỏ của người dân và dần góp phần giảm các tác động, sức ép vào rừng, hệ sinh thái động, thực vật của Vườn quốc gia.
Vườn quốc gia Xuân Sơn không chỉ là vùng lưu trữ nguồn gen động, thực vật, đa dạng sinh học của Phú Thọ mà còn cả vùng sinh thái lâm nghiệp Trung tâm của Việt Nam. Để bảo vệ và gìn giữ nguồn gen này cho thế hệ mai sau cần có sự quan tâm đặc biệt không chỉ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng ở nơi đây; mà còn cần sự đầu tư với mục tiêu lâu dài của Trung ương, địa phương, các tổ chức phi chính phủ đến đời sống của đồng bào dân tộc. Giúp người dân đảm bảo được đời sống, nhận thức tốt hơn nữa lợi ích đem lại từ rừng, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên./.
