Nhảy đến nội dung

Tình hình quản lý và cấp phép khai thác đất đắp nền công trình trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Nghe bài viết Play Pause
Để quản lý chặt chẽ việc khai thác đất đắp nền công trình, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ có Thông báo số 61/TB-UBND ngày 10/8/2011 về tình hình thực hiện quản lý và khai thác quỹ đất đắp nền trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 11/2012/QĐ-UBND ngày 15/3/2012 của UBND tỉnh, quy định về quản lý và khai thác quỹ đất đắp nền, đắp nền công trình. Các huyện, thành, thị đã tiến hành lập và được phê duyệt Quy hoạch quỹ đất đắp nền công trình như: Hạ Hòa, Thanh Ba, Cẩm Khê, Lâm Thao, Yên Lập, Thanh Thủy thì công tác chấp thuận dự án đầu tư khai thác được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi theo đúng quy định tại Quyết định số 11/2012/QĐ-UBND ngày 15/3/2012 của UBND tỉnh. Tính từ đầu năm 2012 đến tháng 8/2012 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã cấp 13 giấy phép khai thác đất đắp nền công trình phục vụ cho dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai  cho 5 đơn vị gồm: Công ty TNHH Long Vương (3 giấy phép) Công ty cổ phần xây lắp điện Nước Long Giang (3 giấy phép) Công ty TNHH 365 Đức Lương (01 giấy phép), Công ty cổ phần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng VINASHIN (01 giấy phép), Công ty cổ phần tập đoàn TGT (02 giấy phép) tại các địa phương như sau: Huyện Hạ Hòa 6 giấy phép với tổng diện tích là: 22,62 ha, tổng trữ lượng 2.073.071 m3 ; Huyện Thanh Ba 1 giấy phép với tổng diện tích là 4,2 ha, trữ lượng 309.014 m3; Thị xã Phú Thọ 1 giấy phép với tổng diện tích là 3,12 ha, trữ lượng 354.039 m3;  Huyện Lâm Thao cấp 1 giấy phép với tổng diện tích là 7,9 ha, trữ lượng 630.000 m3;  Thành phố Việt Trì 1 giấy phép với tổng diện tích là 2,85 ha, trữ lượng 220.725 m3; Các Doanh nghiệp sau khi có quyết định chấp thuận cho phép khai thác đất đắp nền công trình:  phải thực hiện thu hồi giao đất, bồi thường giải phóng mắt bằng, ký quỹ phục hồi môi trường, thông báo kế hoạch khai thác, thực hiện nghĩa vụ tài chính (nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, thuế VAT...), song đến nay các đơn vị thực hiện  còn chậm do nguồn vốn còn chưa đáp ứng; Có những doanh nghiệp đã tự thoả thuận bồi thường giải phóng mặt bằng với các hộ dân và tiến hành khai thác ngay chưa tuân thủ theo quy định của UBND tỉnh.

 Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, Sở Nông Nghiệp và PTNT, UBND các huyện, thành, thị, các Sở, ngành cơ quan liên quan thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch quỹ đất đắp nền công trình giai đoạn 2010 - 2015 định hướng đến năm 2020 trên địa bàn các huyện; thẩm định hồ sơ xin chấp thuận cho phép khai thác của các Doanh nghiệp, trình UBND tỉnh quyết định trong thời gian ngắn nhất theo yêu cầu của tiến độ Dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai. Sau khi có quyết định cấp phép của UBND tỉnh cho các Doanh nghiệp Sở TN&MT đều có văn bản gửi Doanh nghiệp, các cấp, ngành để đôn đốc hoàn thiện hồ sơ thủ tục trước khi đi vào khai thác. Công an tỉnh đã phối hợp với các sở, ngành, các huyện, thành, thị tiến hành kiểm tra việc khai thác đất đắp nền công trình trên toàn tuyến đường cao tốc; tiến hành đình chỉ việc khai thác trái phép của các đơn vị chưa được cấp phép theo quy định.

 Sau khi các Doanh nghiệp được cấp phép UBND huyện đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện khai thác nhằm đáp ứng yêu cầu tiến độ Dự án; chỉ đạo các phòng chức năng hướng dẫn và đôn đốc Danh nghiệp thực hiện các thủ tục thu hồi giao đất, ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, thực hiện nghĩa vụ tài chính trong quá trình thực hiện của các doanh nghiệp; UBND cấp xã quản lý việc khai thác đất đắp nền công trình của các doanh nghiệp sau khi được cấp phép còn lúng túng trong việc bồi thường giải phóng mặt bằng với các chủ hộ sử dụng đất. Tình trạng tự ý san gạt hạ cốt nền của một số hộ dân diễn ra khá phức tạp ở một số địa phương do chưa được quản lý chặt theo Quyết định số 11/2012/QĐ-UBND ngày 15/3/2012 của UBND tỉnh, quy định về quản lý và khai thác quỹ đất đắp nền, đắp nền công trình trên địa bàn tỉnh.

 Việc Quy hoạch quỹ đất đắp nền công trình trên địa bàn đã được các huyện thực hiện khá tốt dựa trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của từng địa phương đã góp phần quản lý chặt chẽ quỹ đất đắp nền, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thi công dự án tiếp cận được với nguồn đất đắp nền; hạn chế các hoạt động khai thác đất đắp nền trái phép, không đúng quy hoạch. Các sở, ngành, các cấp đã tăng cường công tác quản lý chặt chẽ hơn đối với tài nguyên đất đắp nền công trình trên địa bàn tỉnh. 7 huyện, thành, thị chưa thực hiện lập Quy hoạch quỹ đất đắp nền công trình như chỉ đạo của UBND tỉnh là Tân Sơn, Thanh Sơn, Tam Nông, Đoan Hùng, Phú Thọ, Phù Ninh, Việt Trì. Một số địa phương còn buông lỏng quản lý trong khai thác đất đắp nền và hạ cốt nền nhà của các hộ gia đình, cá nhân dẫn đến một số tổ chức, các nhân lợi dụng để khai thác trái phép. Các Doanh nghiệp sau khi được cấp phép chưa nghiêm túc thực hiện đầy đủ các thủ tục về đất đai và môi trường và các nghĩa vụ khác theo quy định. Các mỏ khai thác đất phục vụ cho dự án đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai khai thác chưa đảm bảo quy trình, phương án khai thác đã được duyệt.

Về Quy hoạch chưa hoàn thành trên địa bàn toàn tỉnh một phần do nguồn kinh phí lập quy hoạch của các huyện, thành, thị còn gặp khó khăn, chưa có hướng dẫn cụ thể sử dụng từ nguồn nào. Việc hạ cốt nền nhà của các hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp có thẩm quyền cho phép dọc tuyến đường cao tốc gây tình trạng mua bán lộn xộn đất đắp nền của các đơn vị thi công dự án. Năng lực đầu tư, ý thức chấp hành quy định pháp luật của một số Doanh nghiệp được cấp giấy phép còn nhiều hạn chế, chưa thực hiện đầu tư xây dựng theo dự án được duyệt.

Trong thời gian tới cần tăng cường công tác quản lý nhà nước, chỉ đạo các đơn vị đã được cấp giấy phép khai thác đất đắp nền hoàn thiện ngay các thủ tục như: hoàn thiện thu hồi, giao đất trình UBND tỉnh phê duyệt; bồi thường giải phóng mặt bằng; thông báo bằng văn bản với UBND cấp xã, UBND cấp huyện, Sở Tài nguyên và Môi trường về kế hoạch, thời gian khai thác, thời gian kết thúc khai thác; thực hiên việc ký quỹ phục hồi môi trường; đăng ký số lượng xe vận tải, tuyến vận tải với cơ quan chức năng; Các sở, ngành; UBND các huyện, thành, thị và các địa phương theo dõi, đôn đốc việc thực hiện của các đơn vị được cấp phép theo nội dung tại Điều 2 của Quyết định chấp thuận cho phép khai thác đất đắp nền công trình đi vào nề nếp. 

Tác giả bài viết:  Trần Đức Thành - Phòng Quản lý khoáng sản

Nguồn tin:  Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin