Nhảy đến nội dung

Đo đạc lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo mô hình hiện đại

Nghe bài viết Play Pause
Toàn tỉnh có tổng diện tích tự nhiên là 353.342,47 ha. Trong đó: Đất nông nghiệp là  80.723,63 ha; Đất phi nông nghiệp là  53.836,97 ha; Đất chưa sử dụng là 18.781,87 ha.

Trên phạm vi toàn tỉnh đều đã được đo vẽ bản đồ 299 từ những năm 1982 trở lại đây với tổng số 275 xã, phường thị trấn. Phần lớn các địa phương sử dụng loại bản đồ này để cấp GCNQSD đất, lập hồ sơ địa chính đối với các loại đất: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất ở nông thôn. Tuy nhiên, do hạn chế về chất lượng kỹ thuật, không đồng bộ và thời gian thành lập đã lâu nên bản đồ đã biến động nhiều. Khả năng sử dụng và khai thác kém hiệu quả:

Từ những năm 1996 trở về trước bản đồ được xây dựng theo công nghệ cũ, đo vẽ và biên tập bản đồ bằng phương pháp thủ công. Từ năm 1996 trở lại đây Bản đồ địa chính của tỉnh được xây dựng theo công nghệ mới trên máy đo ghi số liệu tự động và biên tập trên phần mềm chuyên dụng. Trên cơ sở các tài liệu đó các xã, phường, thị trấn đã tiến hành cấp giấy CNQSD đất, lập hồ sơ địa chính;

Tuy nhiên, trong những năm qua đặc biệt là những năm gần đây do tốc độ phát triển đô thị hoá, công nghiệp hoá trên địa bàn tỉnh tương đối mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhất là vùng đô thị và các xã ven đô, những địa phương có lợi thể về du lịch hoặc giao thông như: Lâm Thao, Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Thuỷ… nên đất đai biến động nhiều so với thời điểm đăng ký ban đầu. Việc cập nhật, chỉnh lý biến động trên hồ sơ còn nhiều hạn chế, công tác chỉnh lý biến động chưa đi vào nền nếp, chưa thường xuyên mà mới chỉ tập trung thực hiện theo mức kinh phí đầu tư của các cấp tỉnh và huyện nên chỉnh lý chưa triệt để, nguyên nhân do:

- Nguồn tài liệu bản đồ được thành lập  ở những giai đoạn khác nhau, nhiều phương pháp khác nhau.

- Nguồn nhân lực ở cấp xã trực tiếp thực hiện công tác này còn phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, chưa đủ về số lượng, chất lượng trình độ, chuyên môn còn hạn chế. Đặc biệt là về khoa học công nghệ.

- Hệ thống cơ sở dữ liệu, hồ sơ địa chính chưa được xây dựng đồng bộ.

- Kinh phí cho công tác này còn hạn chế.

Để khắc phục những khó khăn đó và nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi Trường Nguyễn Mạnh Hiển đã có Thông báo kết luận số 277/TB-BTNMT ngày 31/12/2010 về nội dung “Từ năm 2011 đến 2012, các tỉnh tập trung chỉ đạo dành toàn bộ kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Trung ương và huy động các nguồn lực của địa phương để xây dựng một mô hình hệ thống đăng ký hoàn chỉnh, hiện đại cấp huyện để làm mẫu định hướng cho việc xây dựng hệ thống đăng ký của từng địa phương nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, hạn chế đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, kém hiệu quả hiện nay.” cùng với thông báo đó Bộ Tài chính cũng có Thông báo số: 533/BTC-NSNN, ngày 14/01/2011 về việc hỗ trợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ đo đạc, lập cơ sở dữ liệu HSĐ chính và cấp GCNQSD đất năm 2011.

Trong năm 2010, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với UBND huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Tân Sơn, xây dựng Thiết kế kỹ thuật - Dự toán công trình: Đo vẽ bản đồ địa chính, CGCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính. Đã được UBND tỉnh phê duyệt và chọn huyện Thanh Sơn làm mẫu để xây dựng mô hình hệ thống đăng ký, hoàn chỉnh, hiện đại cấp huyện.

Để triển khai tốt công tác này tại Thanh Sơn và nhân rộng cho các huyện, thành, thị  khác. Đề nghị UBND tỉnh quan tâm đầu tư hơn nữa nguồn kinh phí để thực hiện. UBND các huyện, thành, thị quan tâm chỉ đạo xây dựng và đào tạo, tuyển chọn nguồn nhân lực đồng bộ về năng lực, trang thiết bị và công nghệ để thực hiện.


Tác giả bài viết:  Tạ Hy Cương - Phó Trưởng phòng QLĐĐBĐ